Đề Xuất 11/2022 # Vận Chuyển Trái Phép Chất Ma Túy 54000 Viên Ma Túy Tổng Hợp Thì Bị Phạm Vào Điều Nào Và Khoản Nào Bộ Luật Hình Sự? / 2023 # Top 18 Like | Shareheartbeat.com

Đề Xuất 11/2022 # Vận Chuyển Trái Phép Chất Ma Túy 54000 Viên Ma Túy Tổng Hợp Thì Bị Phạm Vào Điều Nào Và Khoản Nào Bộ Luật Hình Sự? / 2023 # Top 18 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Vận Chuyển Trái Phép Chất Ma Túy 54000 Viên Ma Túy Tổng Hợp Thì Bị Phạm Vào Điều Nào Và Khoản Nào Bộ Luật Hình Sự? / 2023 mới nhất trên website Shareheartbeat.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Vì bạn không cho biết cụ thể về thời điểm hành vi vận chuyển trái phép 54000 viên ma túy tổng hợp của người đó bị phát hiện nên trong trường hợp này chúng tôi giả định thời điểm hành vi vận chuyển trái phép 54000 viên ma túy tổng hợp do người đó thực hiện bị phát hiện và khởi tố là sau ngày 01/01/2018 (thời điểm BLHS năm 2015 có hiệu lực áp dụng toàn bộ). Do đó, theo quy định tại Điều 250 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) về tội vận chuyển trái phép chất ma túy, hành vi vận chuyển trái phép chất ma túy bị truy cứu trách nhiệm hình sự như sau:

1. Người nào vận chuyển trái phép chất ma túy không nhằm mục đích sản xuất, mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm: a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm; b) Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao côca có khối lượng từ 01 gam đến dưới 500 gam; c) Hêrôin, côcain, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam; d) Lá, rễ, thân, cành, hoa, quả cây cần sa hoặc lá cây côca có khối lượng từ 10 kilôgam đến dưới 25 kilôgam; đ) Quả thuốc phiện khô có khối lượng từ 05 kilôgam đến dưới 50 kilôgam; e) Quả thuốc phiện tươi có khối lượng từ 01 kilôgam đến dưới 10 kilôgam; g) Các chất ma túy khác ở thể rắn có khối lượng từ 01 gam đến dưới 20 gam; h) Các chất ma túy khác ở thể lỏng có thể tích từ 10 mililít đến dưới 100 mililít; i) Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng số lượng của các chất đó tương đương với số lượng chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm b đến điểm h khoản này.

2. Phạm tội trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm: a) Có tổ chức; b) Phạm tội 02 lần trở lên; c) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn; d) Lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức; đ) Sử dụng người dưới 16 tuổi vào việc phạm tội; e) Vận chuyển qua biên giới; g) Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao côca có khối lượng từ 500 gam đến dưới 01 kilôgam; h) Hêrôin, côcain, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA có khối lượng từ 05 gam đến dưới 30 gam; i) Lá, rễ, thân, cành, hoa, quả cây cần sa hoặc lá cây côca khối lượng từ 10 kilôgam đến dưới 25 kilôgam; k) Quả thuốc phiện khô có khối lượng từ 50 kilôgam đến dưới 200 kilôgam; l) Quả thuốc phiện tươi có khối lượng từ 10 kilôgam đến dưới 50 kilôgam; m) Các chất ma túy khác ở thể rắn có khối lượng từ 20 gam đến dưới 100 gam; n) Các chất ma túy khác ở thể lỏng có thể tích từ 100 mililít đến dưới 250 mililít; o) Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng số lượng của các chất đó tương đương với số lượng chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm g đến điểm n khoản này; p) Tái phạm nguy hiểm.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 15 năm đến 20 năm: a) Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao cô ca có khối lượng từ 01 kilôgam đến dưới 05 kilôgam; b) Hêrôin, côcain, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA có khối lượng từ 30 gam đến dưới 100 gam; c) Lá, rễ, thân, cành, hoa, quả cây cần sa hoặc lá cây côca có khối lượng từ 25 kilôgam đến dưới 75 kilôgam; d) Quả thuốc phiện khô có khối lượng từ 200 kilôgam đến dưới 600 kilôgam; đ) Quả thuốc phiện tươi có khối lượng từ 50 kilôgam đến dưới 150 kilôgam; e) Các chất ma túy khác ở thể rắn có khối lượng từ 100 gam đến dưới 300 gam; g) Các chất ma túy khác ở thể lỏng có thể tích từ 250 mililít đến dưới 750 mililít; h) Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng số lượng của các chất đó tương đương với số lượng chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm a đến điểm g khoản này.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình: a) Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao côca có khối lượng 05 kilôgam trở lên; b) Hêrôin, côcain, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA có khối lượng 100 gam trở lên; c) Lá, rễ, thân, cành, hoa, quả cây cần sa hoặc lá cây côca có khối lượng 75 kilôgam trở lên; d) Quả thuốc phiện khô có khối lượng 600 kilôgam trở lên; đ) Quả thuốc phiện tươi có khối lượng 150 kilôgam trở lên; e) Các chất ma túy khác ở thể rắn có khối lượng 300 gam trở lên; g) Các chất ma túy khác ở thể lỏng có thể tích 750 mililít trở lên; h) Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng số lượng của các chất đó tương đương với số lượng chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm a đến điểm g khoản này.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Việc xác định người đó bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo khoản nào của Điều 250 BLHS năm 2015 phải căn cứ vào khối lượng chất ma túy mà người đó vận chuyển. Hiện nay, việc xác định tổng khối lượng hoặc thể tích các chất ma túy được thực hiện trên cơ sở quy định của Nghị định số 19/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 của Chính phủ quy định về việc tính tổng khối lượng hoặc thể tích chất ma túy tại một số điều của BLHS năm 2015.

Vụ 14, VKSND tối cao

Cách Xác Định Trọng Lượng Ma Túy? Cách Tính Khối Lượng Ma Túy? / 2023

Cách xác định trọng lượng của ma túy trong vụ án hình sự. Làm thế nào để có thể xác định được hàm lượng ma túy? Xác định trọng lượng của ma túy thế nào?

Anh em là một người nghiện, có bán trọng lượng ma túy là 1 gam, bên phòng chống ma túy vào khám xét trong nhà và có thêm 1 gam nữa. Tuy nhiên, bên công an lại nói đây ma túy này là ma túy ở thể rắn, phải kiểm tra xem xét. Vậy anh tôi bị xử phạt như thế nào, mức án có cao không? Mong luật sư giải đáp giúp gia đình tôi!

Việc giám định trọng lượng ma túy là hoạt động bắt buộc nhằm trưng cầu giám định để xác định loại, hàm lượng, trọng lượng chất ma túy, tiền chất. Theo đó sẽ phân ra các giai đoạn khác nhau để kết luận mức cụ thể.

“Điều 194. Tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy

Đối với các chất ma tuý khác ở thể rắn:

300 gam chất ma tuý khác ở thể rắn tương đương với 100 gam Hêrôin

150 gam chất ma tuý khác ở thể rắn tương đương với Y gam Hêrôin

Cộng trọng lượng của thuốc phiện và chất ma tuý khác ở thể rắn vừa tính được tương đương với trọng lượng Hêrôin (X và Y) với trọng lượng Hêrôin thực có là:

80 gam + 50 gam + 90 gam = 220 gam

Như vậy, trong trường hợp này tổng số lượng của thuốc phiện, Hêrôin và chất ma tuý khác ở thể rắn (các chất ma tuý mà người phạm tội đã mua bán trái phép) tương đương với 220 gam Hêrôin (2).

1. Cách xác định tổng trọng lượng các chất ma túy

Căn cứ tại Bộ luật hình sự t hì Chương XVIII đã quy định cụ thể về trọng lượng ma túy áp dụng cho từng khoản tương ứng với hành vi phạm tội của người thực hiện , tạo điều kiện thuận lợi cho Tòa án nhân dân các cấp trong việc định tội, định khung hình phạt trong hoạt động xét xử, đảm bảo được tính nghiêm minh, khách quan, công bằng khi ban hành các bản án.

Tại Chương XVIII “Các tội phạm về ma túy” của Bộ luật hình sự , trong đó hướng dẫn cách thức, phương pháp tính, quy đổi định lượng ma túy, định lượng xác định cấu thành tội phạm đối với các hành vi mua bán, vận chuyển, tàng trữ trái phép chất ma túy tạo thuận lợi cho quá trình giải quyết vụ án về ma túy. Cũng tại Nghị quyết số 01/2001/NQ-HĐTP ngày 15/3/2001 hướng dẫn áp dụng một số điều của Bộ luậ hình sự. Các quy định này đã tạo cơ sở pháp lý rõ ràng, chặt chẽ, hướng dẫn chi tiết về định lượng, tỷ lệ phần trăm về trọng lượng của các chất ma túy, là căn cứ để xác định khung hình phạt áp dụng và mức hình phạt tương ứng với trọng lượng do hành vi phạm tội của người phạm tội gây ra giúp cơ quan tố tụng và người tiến hành tố tụng dễ dàng áp dụng, tránh được sự tùy tiện khi áp dụng.

2. Để xác định được trọng lượng ma túy dựa vào cách sau:

Bước 2: Cộng tỷ lệ phần trăm về trọng lượng của từng chất ma túy lại với nhau.

Bước 3: Xác định điểm, khoản, điều luật. Nếu tổng các tỷ lệ phần trăm về trọng lượng của các chất ma túy dưới 100%, thì người phạm tội chỉ bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo khoản 1 Điều 193 hoặc khoản 1 Điều 194 của BLHS, nếu tổng tỷ lệ phần trăm về trọng lượng của các chất ma túy từ 100% trở lên, thì người phạm tội bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo tình tiết định khung: “Có từ hai chất ma túy trở lên mà tổng số lượng của các chất đó tương ứng với số lượng chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ…” quy định tại điểm i khoản 2 Điều 193 hoặc điểm o khoản 2 Điều 194 của BLHS.

Ví dụ: Một người mua bán bốn trăm gam nhựa thuốc phiện và ba gam hêrôin (đều thuộc khoản 1 Điều 194 của BLHS). Tổng trọng lượng của các chất ma túy được xác định như sau:

Bước 2: Cộng tỷ lệ phần trăm về trọng lượng của từng chất ma túy lại với nhau.

Bước 3: Xác định điểm, khoản, điều luật. Nếu tổng các tỷ lệ phần trăm về trọng lượng của các chất ma túy dưới 100%, thì người phạm tội chỉ bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo khoản 2 (khoản 3) Điều 193 hoặc khoản 2 (khoản 3) Điều 194 của BLHS; nếu tổng tỷ lệ phần trăm về trọng lượng của các chất ma túy từ 100% trở lên, thì người phạm tội bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo tình tiết định khung: “Có từ hai chất ma túy trở lên mà tổng số lượng của các chất đó tương ứng với số lượng chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ…” quy định tại điểm e khoản 3 (điểm đ khoản 4) Điều 193 hoặc điểm h khoản 3 (điểm h khoản 4) Điều 194 của BLHS.

Ví dụ : Một người sản xuất sáu trăm gam nhựa thuốc phiện và chín gam hêrôin (đều thuộc khoản 2 Điều 193 của BLHS). Tổng trọng lượng của các chất ma túy được xác định như sau:

Ví dụ : Một người sản xuất bốn trăm gam nhựa thuốc phiện và hai mươi bốn gam hêrôin. Trong trường hợp này hêrôin có trọng lượng thuộc điểm e khoản 2 Điều 193 của BLHS, còn nhựa thuốc phiện có trọng lượng thuộc khoản 1 Điều 193 của BLHS; do đó, hêrôin có trọng lượng nhiều nhất. Tổng trọng lượng của các chất ma túy được xác định như sau:

Việc tính trọng lượng ma túy trong một số vụ án cũng chưa thống nhất, có vụ án căn cứ vào hàm lượng (tinh chất) ma túy nhưng có vụ án lại căn cứ trọng lượng thực tế (gồm tinh chất và tạp chất) thu giữ được để xem xét trách nhiệm hình sự, dẫn đến việc đánh giá tính chất, mức độ phạm tội trong các vụ án cũng khác nhau.

Thủ Tục Ly Hôn Với Chồng Nghiện Ma Túy? / 2023

Tòa án nhân dân quận/huyện nơi đăng ký hộ khẩu thường trú, cư trú của chồng bạn trong trường hợp bạn đơn phương ly hôn.

Hỏi: Em có đăng ký kết ngày 5/12/2011. Hiện tại chồng em đang bị tạm giam trên trại cải tạo ở Bắc Giang về tội mua bán trái phép chất ma túy. Chúng em có con chung sinh năm 2011. Giờ em muốn thì em làm thủ tục như thế nào? (Thu Hằng – Quảng Ninh)

Luật gia Ngô Đức Cường – Tổ tư vấn pháp luật hôn nhân và gia đình Công ty Luật TNHH Everest – trả lời:

– Quyền ly hôn và căn cứ cho ly hôn: Về nguyên tắc vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Toà án giải quyết việc ly hôn. Tuy nhiên trường hợp vợ đang mang thaihoặc đang nuôi con dưới mười hai tháng tuổi thì người chồng không có quyền yêu cầu xin ly hôn. Tòa án xem xét, quyết định cho ly hôn khi đáp ứng đủ các điều kiện về tình trạng vợ chồng mẫu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài và mục đích hôn nhân không đạt được:

Trong trường hợp này bạn hoàn toàn có quyền làm đơn xin ly hôn. Hồ sơ xin ly hôn bao gồm: Đơn xin ly hôn; Bản sao Giấy CMND (Hộ chiếu); Hộ khẩu (có Sao y ); Bản chính giấy chứng nhận kết hôn (nếu có), trong trường hợp mất bản chính giấy chứng nhận kết hôn thì nộp có xác nhận sao y bản chính của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, nhưng phải trình bày rõ trong đơn; Bản sao giấy khai sinh con (nếu có con); Bản sao chứng từ, tài liệu về quyền sở hữu tài sản (nếu có tranh chấp tài sản).

Các bước thực hiện thủ tục ly hôn: Bước 1: Bạn nộp hồ sơ về việc xin ly hôn tại Tòa án nhân dân quận/huyện nơi cư trú của chồng bạntrong trường hợp đơn phương ly hôn. Bước 2:Sau khi nhận đơn khởi kiện cùng hồ sơ hợp lệ Tòa án sẽ ra thông báo nộp tiền . Bước 3: Đương sự nộp tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm tại Chi cục thi hành án quận/huyện và nộp lại biên lai tiền tạm ứng án phí cho Tòa án; Bước 4: Tòa án thụ lý vụ án, tiến hành giải quyết vụ án theo thủ tục chung và ra Bản án/quyết định giải quyết vụ án.

Thẩm quyền giải quyết: Tòa án nhân dân quận/huyện nơi đăng ký hộ khẩu thường trú, cư trú củachồng bạn trong trường hợp bạn đơn phương ly hôn.

Để có ý kiến tư vấn chính xác và cụ thể hơn, Quý vị vui lòng liên hệ với các Luật sư chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật 1900 6198, hoặc E-mail: [email protected]

Nội dung bài tư vấn pháp luật hôn nhân và gia đình mà Công ty Luật TNHH Everest cung cấp, Quý vị chỉ nên xem như nguồn tài liệu tham khảo.

Tại thời điểm quý Vị đọc bài viết này, các điều luật chúng tôi viện dẫn có thể đã hết hiệu lực, hoặc đã được sửa đổi, bổ sung; các thông tin trong tình huống là cá biệt. Do đó, chúng tôi không đảm bảo những thông tin này có thể áp dụng cho mọi trường hợp, mọi đối tượng, ở mọi thời điểm.

Nguyên Tắc “Công Minh” Và Sự Cần Thiết Bổ Sung Vào Các Nguyên Tắc Cơ Bản Của Bộ Luật Hình Sự / 2023

    

Nguyên tắc công minh luật hình sự Việt Nam

    Công minh được hiểu bao gồm cả sự công bằng, văn minh, là “công bằng và sáng suốt”[3],  (vừa bình đẳng, vừa văn hóa, vừa tiến bộ hợp thời đại…). Công minh có tác động to lớn đối với việc pháp huy hiệu quả của pháp luật hình sự cũng như các quy phạm pháp luật nói chung. Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi xin đưa ra một số những luận điểm thông qua việc nghiên cứu phạm vi ứng dụng, cơ chế tác động qua đó làm rõ hình thức, mức độ biểu hiện và những đòi hỏi của yếu tố công minh đối với quy định của Bộ luật hình sự (BLHS) cũng như của thực tiễn áp dụng quy định của bộ luật này. Công minh trong luật hình sự được hiểu như một khái niệm nhằm đánh giá, đo lường sự hiệu quả của việc ban hành các quy phạm pháp luật hình sự, là sự đánh giá tương xứng giữa sự phù hợp của nội dung quy phạm với các tình yếu tố thực tế khi áp dụng vào thực tiễn, đảm bảo phát huy tác dụng tối đa của các quy phạm khi áp dụng vào thực tiễn vụ việc hình sự nhằm thực hiện nhiệm vụ của BLHS. Biểu hiện cụ thể của nguyên tắc này là:

1)    Hình phạt, các biện pháp tư pháp và các quy định hình sự khác áp dụng đối với người phạm tội cần đảm bảo sự phù hợp với tính chất và mức độ nghiêm trọng của tội phạm được thực hiện, động cơ và mục đích phạm tội, mức độ lỗi cũng như tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi, phù hợp với nhân thân người phạm tội;

2)    Trong BLHS có các quy phạm mang tính chất tùy nghi để giúp Tòa án chủ động trong việc xác định mức độ nguy hiểm cho xã hội đối với từng tội phạm cụ thể qua đó áp dụng một cách hợp lý, hợp tình, phát huy hiệu quả mục đích của hình phạt và các biện pháp hình sự khác;

3)    Không một hành vi phạm một tội nhất định nào bị xử lý quá một lần.

    

Phạm vi ứng dụng và sự cần thiết phải luật hóa nguyên tắc công minh trong luật hình sự      

     Có thể nhận thấy, công minh bao hàm cả mối tương quan giữa vật chất và tư tưởng, của khách quan và chủ quan. Từ các quy phạm pháp luật hình sự, cho phép trả lời về chính sách hình sự của một quốc gia và từ thực tiễn áp dụng cũng cho phép trả lời câu hỏi về hiệu quả, chất lượng, sự phù hợp với đạo đức, ý thức xã hội của các quy phạm luật hình sự. Thông qua nguyên tắc công minh, giúp cho Nhà nước có thể định hướng và hoàn thiện hệ thống pháp luật hình sự để đáp ứng yêu cầu của thực tiễn công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm, góp phần đảm bảo công bằng, văn minh của xã hội nói chung.

     Nguyên tắc công minh thể hiện dưới hai hình thức, công minh “chính xác” (có tài liệu gọi là ngang nhau) là sự bình đẳng trước pháp luật hình sự của mọi chủ thể, việc xây dựng những cơ sở của trách nhiệm hình sự (TNHS), tội phạm và hình phạt  và công minh bởi có tính đến yếu tố “hợp lý- hợp tình”  đó là công minh “điều hòa”(có tài liệu gọi là phân phối), công minh “điều hòa” thể hiện tập trung nhất trong hoạt động quyết định hình phạt.  Do đó công minh là một nguyên tắc độc đáo và quan trọng có ý nghĩa chỉ ra đường lối từ việc xây dựng cho đến áp dụng pháp luật hình sự. Phạm vi ứng dụng của nguyên tắc công minh trong BLHS hiện hành là:

2.1 Công minh trong việc quy định tội phạm và hình phạt:

     2.1.1 Quy định cơ sở của TNHS:

cơ sở của TNHS là một căn cứ pháp lý vô cùng quan trọng, không thể thiếu trong các quy định của BLHS, dựa vào đó các cơ quan có thẩm quyền mới đặt ra vấn đề TNHS của một người nào đó trên thực tế vì đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội mà BLHS quy định là tội phạm. Do đó nguyên tắc công minh thể hiện ở chỗ tội phạm là cơ sở của TNHS, ở đâu có tội phạm, thì ở đó có TNHS, không có tội phạm thì không có TNHS.

2.1.1    Quy định tội phạm và phân loại tội phạm:

     Xác định rõ ranh giới giữa tội phạm và không phải tội phạm, tội phạm và các vi phạm khác. Bởi lẽ với mỗi loại hành vi, Nhà nước áp dụng những chế tài khác nhau phù hợp với tư tưởng tiến bộ xã hội, chế tài phải tương xứng với mức độ nguy hiểm của hành vi. Nếu không xác định rõ ranh giới thì trong nhiều trường hợp hành vi nguy hiểm cho xã hội lớn hơn (tội phạm) lại chịu trách nhiệm nhẹ hơn những hành vi có mức độ nguy hiểm cho xã hội thấp hơn (các vi phạm khác) và ngược lại. Do đó, chỉ những hành vi nào được quy định trong BLHS mới là tội phạm, còn lại không phải là tội phạm – đó là sự công minh.

    Hình sự hóa các hành vi nguy hiểm cho xã hội đến mức phải xử lý bằng chế tài hình sự, những hành vi được coi là tội phạm và đưa vào xây dựng BLHS là những hành vi nguy hiểm, việc trừng trị và giáo dục người phạm tội là cần thiết, phù hợp với đòi hỏi của xã hội, đảm bảo sự công bằng xã hội – gây nguy hại cho xã hội thì phải chịu trừng phạt.  Bên cạnh đó phi hình sự hóa những hành vi không còn nguy hiểm cho xã hội nữa…

2.1.2    Quy định hình phạt:

    Quy định về khái niệm hình phạt, trong đó nêu rõ hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước nhằm tước bỏ hoặc hạn chế quyền của người phạm tội. Công minh ở chỗ người đã thực hiện hành vi phạm tội, tức là những hành vi nguy hiểm nhất cho xã hội thì phải chịu biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất.

    Quy định về mục đích của hình phạt, bao gồm cả mục đích trừng trị người phạm tội và giáo dục, cải tạo người phạm tội. Nguyên tắc công minh thể hiện ở điểm: Nhà nước có quyền trừng trị người phạm tội nhưng ngược lại Nhà nước cũng có trách nhiệm giáo dục lại người phạm tội trở thành người có ích cho xã hội…

    Hình phạt được quy định đa dạng (Cảnh cáo, phạt tiền, tù có thời hạn…) để Tòa án tùy trường hợp mà áp dụng sao cho đảm bảo quy định của pháp luật nhưng cũng không bị cứng nhắc với những trường hợp cụ thể. Chỉ có trách nhiệm phù hợp với tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi thì mới mang lại tác dụng tích cực. Sẽ đảm bảo đòi hỏi nguyên tắc công minh ở chỗ: nếu hai người cùng phạm một tội nhưng ý thức xã hôi, nhân thân, khả năng giáo dục lại, sự tự ý thức tái hòa nhập công đồng…khác nhau thì không phải chịu hình phạt như nhau.

    Đối với mỗi tội phạm, người phạm tội chỉ bị tuyên một hình phạt chính nhưng có thể áp dụng một hoặc nhiều hình phạt bổ sung. Thể hiện yếu tố thống nhất của công minh “chính xác” và công minh “điều hòa”.

    Bằng cách quy định rõ nội dung các hình phạt, các điều kiện áp dụng chúng, loại hình phạt nào được áp dụng đối với tội phạm gì phụ thuộc vào mức độ nguy hiểm của tội phạm ấy, trường hợp nào được áp dụng hình phạt này, hình phạt khác, trong từng quy phạm có quy định giới hạn tối tiểu, tối đa của một hình phạt…nhà làm luật đã xác định rõ giới hạn của việc áp dụng hình phạt, không được áp dụng hình phạt một cách tùy tiện, tràn lan.

2.2 Công minh trong việc định tội danh đúng, quyết định hình phạt:

2.2.1    Công minh trong việc yêu cầu định tội danh đúng.

       Từ việc định tội danh đúng mới có thể xử lý theo đúng tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội. Để định tội danh đúng, trước hết phải xác định đúng, khách quan các tình tiết thực tế của vụ án, nghiên cứu sâu sắc các tình tiết đó, giải thích chính xác nội dung của điều luật, lựa chọn đúng các quy phạm hình sự tương ứng, đối chiếu, so sánh chính xác, đầy đủ các dấu hiệu tội phạm được quy định trong quy phạm đó với các dấu hiệu của hành vi trong thực tế…Truy cứu đúng người, đúng tội mới đảm bảo được cả yếu tố trừng trị, giáo dục và phòng ngừa chung trong xã hội.

     Đòi hỏi người đã thực hiện tội phạm thì phải chịu hình phạt. Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội ở mức độ cao phải chịu hình phạt nặng hơn người thực hiện hành vi nguy hiểm ở mức độ thấp hơn và ngược lại…. Trong phạm vi các quy phạm cũng có quy định tương tự, theo đó, những tội phạm được coi là nguy hiểm hơn thì mức hình phạt quy định nghiêm khắc hơn.

    Việc định tội danh đúng cần phải viện dẫn quy định của điều luật cụ thể ở phần các tội phạm của BLHS, điều luật bao gồm nhiều khoản, nhiều điểm thì phải chỉ rõ các khoản, điểm tương ứng của điều luật. Trong trường hợp đồng phạm, chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt thì phải viện dẫn cả quy định ở phần chung về các chế định này và viện dẫn điều, khoản, điểm ở tội phạm tương ứng trong phần các tội phạm.

2.2.2                   Công minh trong việc quyết định hình phạt:

      Thừa nhận nguyên tắc trong thực tế, đó là: không thể áp dụng những hình phạt giống nhau một các máy móc đối với những người phạm tội giống nhau. Để kết án một cách công minh, để người bị kết án phải chịu hình phạt một cách thỏa đáng, tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi của mình, thông qua đặc điểm về nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ, tình tiết tăng nặng TNHS, lỗi, động cơ, mục đích phạm tội, các tình tiết khác có ý nghĩa trong việc quyết định hình phạt v.v…, pháp luật dành cho Tòa án một khả năng rộng lớn, sự “tùy nghi” lựa chọn các biện pháp tác động cụ thể đối với người phạm tội. Để “dưới con mắt của kẻ phạm tội, sự trừng phạt phải là kết quả tất yếu của hành vi của chính người đó- do đó phải là hành vi của chính người đó. Giới hạn hành vi của y phải là giới hạn của sự trừng phạt.’’[4].  Hay nói cách khác quyết định hình phạt phải làm cho người phạm tội và xã hội “tâm phục, khẩu phục’’ – đó chính là kết quả của sự công minh.

    Nguyên tắc công minh còn đòi hỏi Tòa án quyết định hình phạt phải phản ánh một cách đúng đắng dư luận xã hội, ý thức pháp luật và đạo đức xã hội, có sức thuyết phục mọi người ở tính đúng đắn, tính công bằng của chính sách xét xử.

    Nguyên tắc công bằng định hướng cho Hội đồng xét xử khi quyết định hình phạt trong việc đưa ra những luận điểm toàn diện, xem xét mọi vấn đề, khía cạnh cả pháp lý, xã hội để bản án đạt hiệu quả cao nhất.

    Một số các quy định khác của BLHS là sự cụ thể hóa của nguyên tắc công minh như: Nghiêm trị kẻ chủ mưu, cầm đầu, khoan hồng với người tự thú, tự nguyện bồi thường, khắc phục hậu quả thiệt hại…

2.3                      Công minh trong việc quy định “ Không ai có thể phải chịu trách nhiệm hai lần về cùng một tội phạm”

     Tính công minh của pháp luật hình sự (công minh trong cả việc xây dựng quy phạm pháp luật hình sự và áp dụng vào trong thực tiễn) có ý nghĩ vô cùng to lớn cả về chính trị – pháp lý và tâm lý xã hội. Pháp luật xã hội chủ nghĩa nói chung và pháp luật hình sự nói riêng không chỉ bảo đảm sự bình đẳng về mặt pháp lý của mọi chủ thể trong xã hội mà thông qua đó còn tác động vào quá trình điều chỉnh các mối quan hệ xã hội, tạo điều kiện trong việc đạt được sự công bằng, bình đẳng, văn minh trong thực tế. Ngoài ra tính công minh trong luật hình sự còn thể hiện ý nghĩa giáo dục sâu sắc. Theo đó, nếu như sự bất công sinh ra bất bình, căm phẫn, bất phục, tiêu cực, lãnh đạm, thờ ơ, vô trách nhiệm, “buông xuôi”, mất niềm tin…thì sự công tâm lại tạo cảm giác thỏa mãn, đồng tình và nâng cao tính tích cực. Sự thuyết phục, tin tưởng của xã hội ở tính công minh của pháp luật, cụ thể là của các quy định và việc áp dụng trên thực tiễn sẽ “nâng cao uy tín của pháp luật, thúc đẩy việc tự nguyện tuân thủ các đòi hỏi của pháp luật, tạo điều kiện cho việc củng cố trật tự pháp luật và pháp chế”.[5] Như vậy, công minh là nguyên tắc hoàn toàn phù hợp với tư tưởng pháp lý tiến bộ của nhân loại về sự công bằng của pháp luật đã có từ thời đại xa xưa với câu ngạn ngữ La tinh cổ đại nổi tiếng “Jus est ars bony aequi” – Pháp luật là nghệ thuật của sự thật và công lý.[6] Công minh được biểu hiện xuyên suốt trong hầu hết các quy phạm của BLHS, là sợi chỉ đỏ định hướng cho việc xây dựng, tìm hiểu và áp dụng các quy phạm pháp luật hình sự trong thực tiễn, do đó việc chưa quy định nguyên tắc công minh như một nguyên tắc cơ bản nhất của BLHS là một thiếu sót lớn. Do đó, chúng tôi kiến nghị bổ sung nguyên tắc này trên cơ sở nội dung như sau:

   Nguyên tắc công minh

   “1. Hình phạt và các biện pháp xử lý hình sự khác được áp dụng đối với người phạm tội phải đảm bảo phù hợp với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội.

   2. Không ai có thể phải chịu trách nhiệm hai lần về cùng một tội phạm.”

   Từ nguyên tắc cơ bản trên, BLHS sẽ triển khai thành các quy phạm cụ thể, đảm bảo yêu cầu của sự công minh để việc áp dụng trên thực tiễn thu được hiệu quả cao nhất, đó là: 1. Quy định hình phạt, hệ thống hình phạt và các chế tài cụ thể đối với các tội phạm. Tương ứng với các tội phạm khác nhau về tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội có những hình phạt, chế tài khác nhau về tính chất và sự nghiêm khắc; 2. Định tội danh đúng là tiền đề quan trọng trong việc quyết định hình phạt một cách công minh; 3. Khi quyết định hình phạt phải cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội đã thực hiện, cân nhắc các đặc điểm nhân thân người phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng TNHS và các tình tiết khác có ý nghĩa trong việc quyết định hình phạt để hình phạt được tuyên là tương xứng với các yếu tố nêu trên.

  Th.s Trần Đình Hải

                                Trường Đại học Kiểm sát Hà Nội

                              Hanoi Procuracy University

[1] chúng tôi Lê Văn Cảm, Những vấn đề cơ bản trong khoa học luật hình sự (phần chung), Nxb Đại học quốc gia, 2005, tr.200-201.

[2] Võ Khánh Vinh (chủ biên), Giáo trình luật hình sự Việt Nam (phần chung), Nxb Công an nhân dân, 2002, tr.30

[3] Từ điển Tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng, 2008, tr. 270

[4] L Bkimov A.I, Công bằng và pháp luật xã hội chủ nghĩa, Nxb Đại học tổng hợp Leningrat, 1980, tr.35

[5] TS Võ Khánh Vinh, “Nguyên tắc công bằng trong luật hình sự Việt Nam”. Nxb Công an nhân dân 1994, tr.59

[6] chúng tôi Lê Cảm, “Những vấn đề cơ bản trong khoa học luật hình sự” phần chung, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội 2005, tr207

Bạn đang đọc nội dung bài viết Vận Chuyển Trái Phép Chất Ma Túy 54000 Viên Ma Túy Tổng Hợp Thì Bị Phạm Vào Điều Nào Và Khoản Nào Bộ Luật Hình Sự? / 2023 trên website Shareheartbeat.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!