Top 20 # Xem Nhiều Nhất Ý Nghĩa Vị Trí Địa Lý Việt Nam / 2023 Mới Nhất 12/2022 # Top Like | Shareheartbeat.com

Nốt Ruồi Son Là Gì? Ý Nghĩa Nốt Ruồi Son Theo Vị Trí Ở Nam Và Nữ / 2023

1. Nốt ruồi son là gì? . Ý nghĩa của nốt ruồi son theo lý giải khoa học

Nốt ruồi son hay còn được gọi là nốt ruồi đỏ, xuất hiện dưới da là do các vi huyết quản phình lên dưới bề mặt da tạo thành. Nốt ruồi son có thể mọc ở bất cứ đâu trên cơ thể, được coi là mang lại điều tốt lành. Nốt ruồi son nằm khá sâu dưới da nên khi tẩy đi sẽ khó khăn hơn so với nốt ruồi nâu hoặc đen, sẽ để lại sẹo .

2. Ý nghĩa nốt ruồi son theo vị trí ở nam và nữ theo nhân tướng học

Nốt ruồi son ở lòng bàn tay

Nốt ruồi son trong lòng bàn tay được coi là vận mệnh tốt. Dù ở bàn tay trái hay phải thì đều được coi là đem lại may mắn và thành công. Nốt ruồi trong bàn tay được xem như là Chưởng Thượng Minh Châu, tức viên ngọc quý nắm trong tay. Nếu như phụ nữ có nốt ruồi này cuộc sống hôn nhân vô cùng hạnh phúc. Nếu như là đàn ông thì con đường công danh sự nghiệp sẽ dễ dàng hơn. Hơn nữa đây còn là một người có ý chí kiên định, quyết tâm, luôn bình tĩnh.

Nốt ruồi son ở ngực

Nốt ruồi ở ngực làm bạn trông thu hút hơn với người khác giới. Đó là người đào hóa, được nhiều người khác theo đuổi, hơn nữa họ sẽ có một đời sống tinh thần cũng như vật chất phong phú, đầy đủ.

Nốt ruồi son ở bụng

Nếu sở hữu nốt ruồi son ở vị trí này, bạn sẽ có đường tài lộc, công danh thuận lợi, tài năng kiệt xuất hơn người. Họ là nguwoif có tố chất lãnh đạo. Hơn nữa, họ còn xem trọng tình cảm hơn vật chất

Nốt ruồi son trên cổ.

Ông bà ta có câu: “ nốt ruồi trên cổ có hố chôn tiền”, vì thế mà những người có nốt ruồi này thường sẽ không phải lo về chuyện tiền bạc, có đời sống dư dả, được thừa hưởng nhiều tài sản. Đây cũng là những người có tài năng xuất chúng và có thể tự mình làm giàu.

Nốt ruồi son trên mặt

Nếu bạn sở hữu nốt ruồi son giữa 2 đầu lông mày, thì trong cuộc sống bạn sẽ gặp rất nhiều may mắn. Bạn sẽ có đời sống giàu sang, phú quý, không bao giờ rơi vào cảnh túng thiếu. Phụ nữ sở hữu nốt ruồi son này thường có tài ăn nói, ngoại giao tốt, được lòng mọi người xung quanh.

Nốt ruồi son ở dái tai

Đây là dấu hiệu cho thấy bạn có số mệnh trường thọ, có vận mệnh tốt, cuộc sống no đủ. Những người sở hữu nốt ruồi này cũng có tướng làm quan, thăng tiến phát triển trong công việc rất nhanh.

Nốt ruồi son ở sau gáy

Đây là nốt ruồi báo hiệu điềm đại cát, là người có số hưởng, công thành danh toại, luôn được người khác giúp đỡ trong công việc và cuộc sống. Tiền của vật chất đong đầy, rủng rỉnh đầy túi, không lo túng thiếu

Nốt ruồi son ở mũi

Nốt ruồi so ở mũi cho thấy bạn là người ngay thằng, công tư phân minh, chính trực. Hơn nữa tài lộc sẽ từ đến với bạn. Tuy nhiên bạn phải biết cách kiểm soát, nếu không sẽ hao tổn và làm lãng phí của cải.

Nốt ruồi son ở môi

Nếu bạn sở hữu nốt ruồi son ở vị trí này thì bạn là một người giỏi ăn nói, hoạt ngôn, có tài ngoại giao và được mọi người yêu quý. Chính vì thế mà công việc thăng tiến nhanh và không phải lo nghĩ về vấn đề tiền bạc

Nốt ruồi son ở cằm

Đặc điểm này cho thấy bạn là người hào phóng, luôn quan niệm cho đi là còn mãi. Hậu vận của những người có đặc điểm này khá tốt, tuy nhiên về phương diện tiền bạc sẽ tốt hơn ở tuổi tứ tuần. Họ cũng sẽ có một cuộc sống gia đình hạnh phúc, đuề huề, con đàn cháu đống.

Nốt ruồi son ở cổ tay

Đây là dấu hiệu cho thấy bạn là một người rất may mắn. Nốt ruồi này như một cái duyên mang đến sự thành công và hạnh phúc trong cuộc sống của bạn. Hơn nữa, trong cuộc sống cũng như công việc, bạn sẽ luôn được hỗ trợ, giúp đỡ, công danh sự nghiệp cũng từ đó mà thăng tiến.

Nếu như bạn là người sở hữu một trong những nốt ruồi son mà Tấm đã liệt kê ở trên, thì xin chúc mừng bạn. Tuy nhiên, đây chỉ là những quan niệm của người xưa, chưa có căn cứ chính xác và thuyết phục. Vì thế hãy luôn cố gắng trong cuộc sống, rồi bạn sẽ được đền đáp xứng đáng với công sức đã bỏ ra. Và nếu như bạn thấy nốt ruồi đỏ mọc lên bất thường thì đó có thể là dấu hiệu của bệnh, hãy đi đến bác sĩ ngay để được thăm khám và chẩn đoán.

Ý Nghĩa Quốc Huy Việt Nam / 2023

Để hiểu rõ ý nghĩa quốc huy Việt Nam, bài viết sẽ phân tích cấu tạo, hình thức của quốc huy.

Trước hết là hình ngôi sao vàng 5 cánh đặt ở trung tâm nền đỏ của quốc huy. Màu đỏ tượng trưng cho nhiệt huyết chiến đấu, là máu của các anh hùng liệt sĩ đã xả thân cứu nước và màu vàng là màu da của người Việt Nam. 5 cánh của ngôi sao là đại diện cho năm tầng lớp: sĩ, nông, công, thương, binh cùng hợp lại, đoàn kết chống lại kẻ thù, xây dựng đất nước.

Hình ảnh bông lúa vàng bao quanh tượng trưng cho nông nghiệp, bánh xe tượng trưng cho công nghiệp khẳng định: Việt Nam là nước liên minh công – nông và luôn đoàn kết cùng nhau để xây dựng đất nước phát triển hơn.

Mang ý nghĩa là biểu tượng của đất nước, của dân tộc, Quốc Huy là vật phẩm thường được các nhà lãnh đạo, người làm trong cơ quan nhà nước dùng để làm quà biếu tặng. Vì vậy, ý nghĩa quốc huy Việt Nam mang ý nghĩa lịch sử dân tộc vượt thời gian.

Quốc huy bằng đồng chế tác thủ công thường được treo tại các cơ quan công quyền của nhà nước, trong các phòng họp của các đơn vị, văn phòng đoàn thể,…

2. Hình mẫu chuẩn của Quốc Huy Đảng Cộng Sản Việt Nam

Theo điều 13 Hiến pháp nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định: Quốc huy nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam hình tròn, nền đỏ, ở giữa có ngôi sao vàng năm cánh, chung quanh có bông lúa, ở dưới có nửa bánh xe răng và dòng chữ Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Khi chế tác , các nghệ nhân thường dùng các quy chuẩn: Hai bông lúa chín màu vàng sẫm uốn cong, đặt trên nền vàng tươi, tượng trưng cho nông nghiệp; Một bánh xe răng cưa màu vàng tươi đặt ở giữa hai bó lúa buộc chéo, tượng trưng cho công nghiệp; Một băng đỏ có chữ “Việt Nam dân chủ cộng hoà” màu vàng quấn bánh xe và hai bó lúa với nhau; Trong lòng là hình lá cờ vàng tươi trên nền đỏ tươi; Các màu vàng ở mẫu quốc huy có thể thay bằng màu vàng kim nhũ.

Tùy theo yêu cầu mà kích thước của quốc huy có sự khác nhau. Với các không gian như: trụ sở, tỉnh ủy, ủy ban, Quốc huy thường lớn để treo trước cửa chính của hội trường, quốc huy nhỏ có thể trưng bày trong văn phòng, cơ quan, đoàn thể. Với ý nghĩa quốc huy Việt Nam sâu sắc nên cũng được chế tác với kích thước mini để làm vật trang trí để bàn hoặc quà tặng đối tác nước ngoài.

3. Quốc huy Việt Nam bằng đồng đẹp, đa dạng kích thước tại cơ sở Đúc Đồng Quang Hà

Quốc huy Việt Nam thường được làm từ đổng bởi đồng có độ bền và độ đẹp khi chế tác thành phẩm. Hơn nữa, quốc huy thường được trưng bày ngoài trời mà đồng không bị oxy hóa, hoen gỉ nên quốc huy bằng đồng đỏ hoặc đồng vàng được ứng dụng nhiều nhất.

Tuy nhiên, đồng phải là nguyên chất thì mới đảm bảo chất lượng và độ bền. Nhưng không phải khách hàng nào cũng biết cách nhận biết đồ bằng đồng thật và giả.

Vì vậy, tốt nhất, khách hàng nên đến các cơ sở đúc đồng lâu năm, cửa hàng uy tín như Đồ đồng Quang Hà, Đồ đồng Dương Quang Hà, Đồ đồng Tâm Phát để tham khảo các mẫu quốc huy đẹp.

Các mẫu quốc huy Việt Nam bằng đồng đẹp, đa dạng kích thước tại cơ sở Đúc đồng Quang Hà:

Với những phân tích về ý nghĩa quốc huy Việt Nam và các mẫu quốc huy đẹp của Đúc đồng Quang Hà, hi vọng sẽ mang lại sự lựa chọn hài lòng nhất cho khách hàng.

Nếu quý khách có nhu cầu về các sản phẩm đồ đồng, xin vui lòng liên hệ tại:

Ý Nghĩa Của Tên Gọi Việt Nam / 2023

9/21/2011 12:37:30 AM

Khi nêu lên câu hỏi ý nghĩa tên gọi Việt-Nam, tên gọi của quốc gia chúng ta hôm nay, hẳn nhiên cần phải ghi nhận những sự kiện lịch sử khách quan liên hệ đến việc chọn lựa danh hiệu nầy. Nhưng, trong khuôn khổ chuyên môn nghiên cứu của tôi, tôi không đủ khả năng để đi sâu vào những chi tiết có tính cách thuần lịch sử. Thật đáng tiếc!

Tuy nhiên, khi nghiên cứu về văn hóa Việt-nam, tôi có đọc được một bản văn mà tôi đánh giá là có giá trị văn hiến làm nền cho tư tưởng truyền thống dân tộc – Truyện Họ Hồng Bàng trong tác phẩm Lĩnh Nam Chích Quái do Vũ Quỳnh hiệu chính và xuất bản vào mùa thu năm 1492 -, và truy tìm được nghĩa của hai từ Việt và Nam trong khuôn khổ văn hóa tư tưởng mà bản văn nầy muốn chuyển tải.

Trong truyện Họ Hồng Bàng nầy, câu kết tóm gọn như sau :

Bách-Nam là thủy-tổ của Bách-Việt vậy . để nắm bắt được lý do tại sao hai chữ ấy có thể thu tóm ý nền tảng tư tưởng mà « bản văn Sáng Thế » ấy muốn chuyển đạt.

Than-ôi! Lĩnh-Nam có nhiều kỳ-trọng, các truyện làm ra không cần phải chạm vào đá, khắc vào ván mà rõ-ràng ở lòng người, bia truyền ở miệng người, ông già, con trẻ thảy đều thông-suốt, đem lòng ái-mộ, khuyên răn nhau, thời việc có hệ ở cương-thường, quan ở phong-tục, há có phải ít bổ-ích đâu?

b/ Chữ Nam trong bản văn cuốn Lĩnh Nam Chích Quái

( Trích bản văn)Đế-Minh lập Đế-Nghi làm tự-quân cai-trị phương Bắc, phong Lộc-Tục làm Kinh-Dương-Vương cai-trị phương Nam, đặt quốc-hiệu là Xích-Quỉ-Quốc.

Kinh-Dương-Vương xuống Thủy-phủ, cưới con gái vua Động-Đình là Long-Nữ, sinh ra Sùng-Lãm tức là Lạc-Long-Quân; Lạc-Long-Quân thay cha để trị nước, còn Kinh-Dương-Vương thì không biết đi đâu.

(…)

Đế-Nghi truyền ngôi cho Đế-Lai cai trị phương Bắc; nhân khi thiên-hạ vô-sự, sực nhớ đến chuyện ông nội là Đế-Minh nam-tuần gặp được tiên-nữ. Đế-Lai bèn khiến Xi-Vưu tác-chủ quốc-sự mà nam-tuần qua nước Xích-Quỉ, thấy Long-Quân đã về Thủy-phủ, trong nước không vua, mới lưu ái thê là Âu-Cơ cùng với bộ-chúng thị-thiếp ở lại hành-tại. Đế-Lai chu-lưu khắp thiên hạ, trải xem tất cả hình-thế, trông thấy kỳ-hoa dị-thảo, trân-cầm dị-thú, tê-tượng, đồi-mồi, kim-ngân, châu-ngọc, hồ-tiêu, nhũ-hương, trầm-đàn, các loại sơn-hào hải-vị không thứ nào là không có; khí-hậu bốn mùa lại không nóng không lạnh, Đế-Lai ái-mộ quá, quên cả ngày về.

(…)

Lạc-Long-Quân bỗng nhiên lại về, thấy nàng Âu-Cơ ở một mình, dung-mạo đẹp lạ-lùng, yêu quá, mới hóa ra một chàng nhi-lang phong-tư mỹ-lệ, tả-hữu thị-tùng đông-đảo, tiếng đàn ca vang đến hành-tại. Âu-Cơ trông thấy mà lòng cũng ưng theo; Long-Quân bèn rước nàng về núi Long-Trang.

(…)

Âu-Cơ ở với Lạc-Long-Quân giáp một năm, sinh ra bọc trứng, cho là điềm không hay nên đem bỏ ra ngoài đồng nội; hơn bảy ngày, trong bọc nở ra một trăm trứng, mỗi trứng là một con trai; nàng đem về nuôi-nấng, không phải cho ăn, cho bú mà tự-nhiên trường-đại, trí-dũng song-toàn, ai cũng úy-phục, bảo nhau đó là những anh em phi-thường.

Qua đoạn văn trích dẫn, chúng ta có được một trực giác về ý nghĩa nhân tính của bách nam, những con người nguyên thủy được tạo dựng trong ánh sáng của chân lý : Bách Nam sinh ra từ 100 trứng, là hoa trái của tương giao giữa Lạc Long Quân và Âu Cơ (Trời và Người). Bách Nam vượt lên trên muôn sinh vật của vũ trụ (linh ưu vạn vật) : không phải cho ăn, cho bú mà tự-nhiên trường-đại, trí-dũng song-toàn, ai cũng úy-phục, bảo nhau đó là những anh em phi-thường.

Nam đối nghịch với với Bắc. Đối với người ở vùng bắc bán cầu như chúng ta, Nam tượng trưng vùng đất có mặt trời ban sự sống và ánh sáng. Bắc tượng trưng cho bóng tối và cõi chết (nơi cư ngụ của Đế Lai, kẻ thù của Lạc Long Quân).

Phương Nam là nước Xích Quỉ, là cộng đồng của giống thần thiêng : từ hán-việt Xích có nghĩa là hơi ấm của mặt trời; từ Quỉ không phải là quỉ ma (satan, diable) như ta hiểu ngày nay, nhưng là giống thần thiêng (có thể dịch qua pháp ngữ là esprit)

Phương Nam là quê của Sùng Lãm ((Sùng là cao trọng đáng tơn kính bên trong, Lãm là đẹp đẽ xuất hiện ra bên ngồi), của Lạc Long Quân (Lạc : gợi lên hạnh phúc viên mãn (= Mỹ), Long : nguồn gốc thần thánh (= Chân), Quân : điều hành công minh, xử lý tốt lành cuộc sống (= Thiện).

Nơi phương Nam, Âu Cơ (Âu là nhớ nhung Ai; cơ là lo toan việc nầy việc kia; Âu Cơ tượng trưng cho hiện sinh con người) là con người trước đây từng bị Đế Lai (tượng trưng cho chấp ngã, dục vọng của quyền lực cá nhân, ham mê của cải vật chất … ) khống chế, nay được Lạc Long Quân (tượng trưng cho chiều kích Trời hay Thần, hoặc là Chân Thiện Mỹ) đưa vào cùng chung sống nơi quê hương Thần Thánh (Long Trang)……

Nơi phương Nam, con người được khai sinh bởi mối tương giao giữa Âu Cơ và Lạc Long Quân ; từ mối tương giao nguyên thủy và nền tảng đó con người nối kết với con người trong mối tình huynh đệ.

Qua những hình ảnh tượng trưng dồn dập nói đến lý lịch thần linh của con người, Nam trong hai chữ Bách Nam ở câu kết của bản văn là nói đến chiều kích LINH THIÊNG của nhân tính ban cho mọi người, không loại trừ một ai.

(Ở doạn văn nầy cũng như ở phần sau (trừ câu kết), chữ VIỆT không minh nhiên viết ra thành văn. Nhưng trong ngôn ngữ hán-việt, VIỆT có nghĩa là vượt qua, vươn lên, đưa lên cao …, do đó, một khi Bách Nam là con người được Thần (Lạc Long Quân) nâng lên hàng linh thiêng, được giải thoát khỏi bóng tối và sự chết (giải thoát khỏi gông cùm của Đế Lai) thì Bách Nam ấy cụng hàm ngụ là Bách Việt.)

c/ Chữ Việt trong bản văn cuốn Lĩnh Nam Chích Quái

Nếu con người từ nguyên thủy [từ lý lịch căn nguyên= nhân chi sơ = con người ở vườn địa đàng (x. Sách Sáng Thế của Do-thái giáo và Kitô giáo)] là Bách Nam, thì thực tại hay hiện sinh con người là một thân thế tranh tối tranh sáng. Một mặt vì Thần (Lạc Long Quân) mà con người phải nối kết luôn ẩn mặt, luôn là KẺ KHÁC (không ai thấy Thần, Thần vô phương), mặt khác con người mang gánh nặng kinh hoàng của tự do và luôn bị bóng tối và sự chết (Đế Lai, phương Bắc) kềm hãm.

Bản văn viết :

Long-Quân ở lâu dưới Thủy-phủ; mẹ con ở một mình, nhớ về Bắc-quốc liền đi lên biên-cảnh; Hoàng-Đế nghe tin lấy làm sợ mới phân-binh trấn-ngự quan-tái; mẹ con không về Bắc được, đêm ngày gọi Long-Quân:

– Long-Quân hốt-nhiên lại đến, gặp hai mẹ con ở Tương-Dạ; Âu-Cơ nói :

– Thiếp vốn người Bắc, cùng ở một nơi với quân, sinh được một trăm trai mà không có gì cúc-dưỡng, xin cùng theo nhau chớ nên xa bỏ, khiến cho ta là người không chồng không vợ, một mình vò-võ.

Long-Quân bảo :

– Ta là loài rồng, sinh-trưởng ở thủy-tộc; nàng là giống tiên, người ở trên đất, vốn chẳng như nhau, tuy rằng khí âm-dương hợp lại mà có con nhưng phương-viên bất-đồng, thủy-hỏa tương-khắc, khó mà ở cùng nhau trường-cửu. Bây giờ phải ly-biệt, ta đem năm mươi trai về Thủy-phủ phân-trị các xứ, năm mươi trai theo nàng ở trên đất, chia nước mà cai-trị, dù lên núi xuống nước nhưng có việc thì cùng nghe, không được bỏ nhau.

Thủy-phủ ở đây là hình ảnh của cảnh vực bên kia bờ, là chiều kích siêu nhiên vượt lên trên thời gian không gian làm khung cho sự hiểu biết của con người. Khi nói Long-Quân ở lâu dưới Thủy-phủ có nghĩa là nói đến Thần vô phương, Thần Linh vượt lên trên trật tự mà sức con người có thể đo lường, khai phá. Nói cánh khác, con người thực tế trước mắt (hiện sinh), tuy mang ấn tích thần thánh trong mình, nhưng đang bị ràng buộc bởi thân phận đang gặp nguy cơ : chiều kích linh thiêng, mở ra với AI KHÁC thì ẩn kín, tưởng như xa vời (mẹ con ở một mình), trong lúc dục vọng chỉ tìm mình, chỉ biết mình và tham lam vật nầy vật khác (nhớ về Bắc-quốc) thì rình rập không ngơi.

Nếu ở phần đầu, Bách Việt có nghĩa là con người được Kẻ Khác ban phần linh thiêng vượt lên trên mọi sinh vật trong trời đất, hoặc con người được Thần nâng lên hàng thần thánh, thì về phần mình, trong thực tại làm người của bất cứ ai, phận vụ hoàn thành nhân tính của mỗi người (hoặc NGHĨA làm con người) lại là luôn nhớ Long Quân và thân thế nguyên sơ của mình ở phương Nam. Nỗi nhớ nầy là ấn tích nguyên sơ, là Đại Ký Ức (ở bên trên mọi ký ức bình thường) làm nên nguồn suối sâu kín trong tâm con người . Nỡi nhớ ấy là Nền Cao Cả ở trong Tâm (Hoàng Đế) vừa có sức can ngăn con người không cho nó rơi vào sự ác (phương Bắc, Đế Lai), vừa nhắc con người nhớ Lạc Long Quan nơi phương Nam ẩn kín.

Đi vào Đại Ký Ưc để vượt lên thân phận bị trói buộc bởi phương Bắc, bởi Đế Lai (vốn là chính dục vọng chấp ngã, chỉ biết mình, phe mình, có nhiều vật cho mình) để tìm về Thủy- tổ phương Nam, nơi con người được nâng lên địa vị thần linh, được mở ra với Ai Khác và nối kết với kẻ khác, nhìn nhận và yêu thương mọi người (không phân biệt chủng tộc, ngôn ngữ, nam nữ, trẻ già …. ) trong tương giao huynh đệ cùng chung mẹ Âu Cơ, cùng được khai sinh do tình yêu không điều kiện đến từ Cha Lạc Long Quân.

Như thế, nghĩa làm người là chiến đấu vượt lên tăm tối sự ác để đi về ánh sáng của yêu thương và chân lý; nói cánh khác con người trong thực tại hiện sinh đúng nghĩa là Bách Việt.

Một khi ánh sáng và nguồn suối khai nguyên con người là phương Nam, một khi con người ban sơ, nguyên thủy là Bách Nam (người sinh ra và cư ngư ở phương Nam nầy), thì Bách Việt (con người tại thế đang vươn mình tìm về nguồn ánh sáng khai nguyên) phải nhận ra Bách Nam chính là thủy tổ của mình.

Gs. Nguyễn Đăng TrúcReichstett, Pháp

Vị Trí, Chức Năng Và Ý Nghĩa Của Việc Học Tập Chủ Nghĩa Xã Hội Khoa Học. / 2023

a) Vị trí của CNXH khoa hoc:

-Với ý nghĩa là tư tưởng,là lý luận thì CNXH KH nằm trong quá trình phát triển chung của các sản phẩm tư tưởng,lý luận mà nhân loại đả sinh chúng tôi KH là 1 trong những đỉnh cao nhất của các khoa học xã hội của nhân loại.

-CNXH KH cũng nằm trong quá trình phát triển lịch sử tưởng XHCN của nhân loại. CNXH KH đã kế thừa có chọn lọc,phát triển những giá trị của CNXH không tưởng,tìm ra những cơ sở khoa học,cơ sở thực tiển của tưởng XHCN

-Chủ nghĩa Mác-Lênin là một học thuyết hoàn chỉnh,gồm 3 bộ phận hợp thành:triết học Mác-Lênin,kinh tế chính trị học Mác-Lênin và CNXH KH. Đây là tưởng khoa học và cách mạng của giai cấp công nhânhiện đại trong cuộc đấu tranh thực hiện thắng lợi sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân.

Cả 3 bộ phận hợp thành chủ nghĩa Mác-Lênin gắn bó,quan hệ biện chứng với nhau để luận giải một cách toàn diếnự diệt vong của chủ nghĩa tư bản và sự thắng lợi của CNXH là tất yếu như nhau,nhằm trang bị cho giai cấp công nhân và toàn thể nhân dân lao động thế giới quan khoa học,phương pháp luận khoa học để nhận thức và cải tạo thế giới.

Triết học Mác-Lênin,với phát kiến vỷ đại đầu tiên là chủ nghĩa duy vật lịch sử, đả chỉ ra sự thay thế các hình thái kinh tế-xã hội diển ra trong lịch sử là do sự phát triển của các phương thức sản xuất kế tiếp nhau quyết định.

Kinh tế học chính trị Mác-Lênin,với phát kiến là học thuyết giá trị thăng dư, đã làm rỏ bản chất của giai cấp tư sản trong nền kinh tế tư bản chủ nghĩa là bóc lột giá trị thặng dư mà giai cấp công nhân đã tạo chúng tôi cấp tư sản càng đẩy mạnh phat triển kinh tế càng làm cho mâu thuẩn ngày càng gay gắt giửa lực lượng sản xuất mang tính xã hội ngày càng cao với tính chất chật hẹp của chế độ chiến hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất.Mâu thuẩn này la nguồn gốc kinh tế cho sự diệt vong chủ nghĩa tư bản.

CNXH KH,với tư cách là một trong ba bộ phận hợp thành chủ nghĩa Mác-Lênin,là học thuyết xã hội-chính trị,trực tiếp nghiên cứu sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân,những điều kiện,những con đường để giai cấp công nhân hoàn thành sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân.

CNXH KH dựa trên nền tảng lí luận chung và phương pháp luận của triết học và kinh tế chính trị học macxit để đưa ra những luận cứ xã hội-chính trị rõ ràng, trực tiếp nhất để chứng minh, khẳng định sự diệt vong tất yếu của chủ nghĩa tư bản và thắng lợi tất yếu của chủ nghĩa xã hội, khẳng định sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân, chỉ ra con đường, các hính thức và biện pháp để tiến hành cải tạo xã hội theo hướng chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản. Như vậy CNXH KH là sự tiếp tục một cách lô gích triết học và kinh tế chính trị học macxit, là sự biểu hiện trực tiếp mục đích và hiệu lực chính trị của chủ nghĩa Mác-Lênin trong thực tiễn.

Nếu như triết học, kinh tế chính trị học luận giải tính tất yếu, những nguyên nhân khách quan, những điều kiện để thay thế chủ nghĩa tư bản bằng chủ nghĩa xã hội thì chỉ có CNXH KH mới đưa ra được câu trả lời cho câu hỏi: bằng con đường nào để thực hiện bước chuyển biến đó.

b) Chức năng, nhiệm vụ của CNXH KH

Thứ nhất, CNXH KH trang bị tri thức khoa học, tri thức lí luận, đó là hệ thống lí luận chính trị- xã hội và phương pháp luận khoa học mà chủ nghĩa Mác-Lênin để luận giải về quá trình tất yêu lịch sử dẫn đến sự hình thành, phảt triển hình thái kinh tế- xã hội cộng sản chủ nghĩa, giải phóng xã hội, giải phóng con người.

Thứ hai, CNXH KH giáo dục tư tưởng chính trị về chủ nghĩa xã hội cho giai cấp công nhân, Đảng Cộng sản và nhân dân lao động để hình thành nên thế giới quan, nhân sinh quan cộng sản chủ nghĩa.

Thứ ba, CNXH KH định hướng chính trị- xã hội cho hoạt động thức tiễn của Đảng Cộng sản, nhà nước xã hội chủ nghĩa và nhân dân trong cách mạng xã hội chủ nghĩa và trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội.

c) Ý nghĩa của việc học tập CNXH KH

Trong tính hình thế giới có nhiều biến động phức tạp như: sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội thực hiện ở Liên Xô và các nước Đông Âu, kẻ thù của chủ nghĩa xã hội âm mưu “diễn biến hoà bình”, không ít người nghi ngờ hoặc phủ nhận vai trò của CNXH KH đốivới cải tạo thực tiễn; vì vậy, việc nghiên cứu CNXH KH có ý nghĩa lí luận to lớn là:

+ CNXH KH trang bị những nhận thức chính trị- xã hội cho Đảng cộng sản, nhà nước, cho giai cấp công nhân và nhân dân lao động trong quá trình bảo vệ và xây dựng xã hội mới- xã hội chủ nghĩa. Học thuyết Mác không dừng lại ở chỗ giải thích thế giới mà còn nhằm cải tạo thế giới. Học thuyết về cải tạo thế giới mà chủ nghĩa Mác-Lênin thể hiện rõ và trực tiếp nhất là CNXH KH.

+ CNXH KH là vũ khí sắt bén trong cuộc đấu tranh chống các học thuyết phản động, phi mác xít.

CNXH KH là một trong những cơ sở lí luận và phương pháp luận của nhiều khoa học xã hội chuyên ngành, đồng thời là cơ sở lí luận giúp cho các Đảng Cộng sản và công nhân quốc tế: xác định con đường đi, định hướng hành động đúng đắn cho đường lối chiến lược, sách lược, chính sách phù hợp với quy luật phát triển khách quan. Do đó, muốn xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội phải vận dụng trung thành và phát triển sáng tạo CNXH KH.

Vị trí, chức năng và ý nghĩa của việc học tập CNXH khoa học.