Top 5 # Xem Nhiều Nhất Ý Nghĩa Protein Niệu Mới Nhất 1/2023 # Top Like | Shareheartbeat.com

Protein Niệu Trong Bệnh Thận Tiết Niệu

Nhận định chung

Bình thường protein không có hoặc rất ít trong nước tiểu. Khi protein xuất hiện thường xuyên và số lượng nhiều trong nước tiểu thường có ý nghĩa bệnh lý và là một trong những chỉ điểm quan trọng của bệnh lý thận tiết niệu.

Xác định protein niệu (Proteinuria) rất có giá trị trong chẩn đoán các bệnh lý thận tiết niệu. Hiện nay, xét nghiệm protein niệu được xem như là một test sàng lọc bệnh lý thận, tiết niệu.

Về mặt số lượng, có thể phân loại

Protein niệu sinh lý: Khi protein dưới 30 mg/ 24 giờ.

Microprotein niệu (protein niệu vi thể): Khi protein 30 – 300 mg/ 24 giờ.

Protein niệu thực sự: Khi protein trên 300 mg/24 giờ.

Mã số (theo ICD 10): N06.

Protein niệu sinh lý

Mỗi ngày, có từ 10 kg đến 15 kg protein huyết tương đi qua tuần hoàn thận, nhưng chỉ có 100 đến 150 mg được bài tiết ra trong nước tiểu trong vòng 24 giờ.

Protein được tiết ra nước tiểu từ thành mao mạch cầu thận và hầu hết lượng protein này được tái hấp thu ở ống lượn gần.

Ở người bình thường, khoảng 60% lượng protein niệu có nguồn gốc từ huyết tương, 40% còn lại có nguồn gốc từ thận và từ đường tiết niệu.

Protein có nguồn gốc từ huyết tương, bao gồm:

+ Albumin.

+ Các Globuline có trọng lượng phân tử thấp.

+ Các Hormone có cấu trúc là các chuỗi peptid.

Protein có nguồn gốc từ thận và từ đường tiết niệu, bao gồm:

+ Protein Tamm – Horsfall: Được tổng hợp ở nhánh lên của quai Henlé, chức năng của nó đến nay vẫn chưa được biết rõ.

+ IgA.

+ Urokinase.

Các phương pháp xác định protein niệu

Phương pháp định tính

Đốt nước tiểu: Đặc điểm lý học của protein là đông vón ở nhiệt độ cao, lợi dụng đặc điểm này, có thể phát hiện được protein có trong nước tiểu bằng cách đốt nước tiểu. Đựng nước tiểu trong một ống nghiệm và đốt trên ngọn đèn cồn, protein trong nước tiểu sẽ đông vón khi nhiệt độ của nước tiểu trên 700C. Hiện tượng đông vón của protein trong nước tiểu sẽ làm vẩn đục nước tiểu và dễ dàng nhận ra bằng mắt thường. Tùy thuộc vào nồng độ protein niệu cao hay thấp mà mức độ vẫn đục nước tiểu thay đổi, có thể chỉ lởn vởn đục ít, có thể nước tiểu đông quánh lại khi lượng protein trong nước tiểu nhiều.

Làm lạnh bởi acide sulfosalicylique hay trichloracétique: Dựa vào tính chất lý học của protein là đông vón trong môi trường acid, khi nhỏ acid vào để tìm hiện tượng đông vón protein.

Phương pháp bán định lượng

Dùng que thử nước tiểu Là phương pháp được áp dụng phổ biến nhất hiện nay, nhất là trong vấn đề sàng lọc bệnh thận trong cộng đồng. Các que thử này được tẩm Tétra bromephénol citraté (pH3), màu bị biến đổi từ vàng sang xanh khi có protein trong nước tiểu.

Phản ứng này phát hiện protein với lượng ít nhất là 150 – 200 mg/l.

Kết quả được biểu thị dưới dạng kết quả: âm tính, Protein niệu vết, 1+ đến 4+ tuỳ thuộc vào mức độ thay đổi màu sắc của que thử khi so sánh với bảng màu chuẩn.

Nhược điểm của phương pháp này là không phát hiện được các Globulin miễn dịch chuỗi nhẹ.

Que thử nước tiểu ngày nay không chỉ được dùng để xác định protein niệu mà còn kết hợp với việc phát hiện các thông số khác.

Định lượng Protein niệu

Cách lấy nước tiểu 24 giờ: sáng ngủ dậy, lúc 6h sáng người bệnh đi tiểu hết sau đó tính từ lúc này đến 6 h sáng hôm sau khi nào đi tiểu đều phải đi vào trong bô đó, sáng hôm sau ngủ dậy đi tiểu bãi cuối cùng lúc 6h và đong xem nước tiểu cả ngày là bao nhiêu, lấy 5 ml nước tiểu để làm xét nghiệm.

Được tiến hành tại phòng xét nghiệm hóa sinh. Có nhiều phương pháp, có thể dùng ion đồng (Cu2+).

Cần phải tính ra lượng Protein niệu / 24 giờ.

Xác định được MicroProtein niệu (Protein niệu vi thể, từ 30 -300 mg/24giờ).

Phát hiện được cả Globulin chuỗi nhẹ.

Điện di Protein niệu

Thường áp dụng phương pháp dùng Cellulose Acetate.

Xác định được bản chất của protein niệu, rất có ích trong việc xác định nguyên nhân của protein niệu.

Dựa vào kết quả điện di, có thể chia Protein niệu thành các loại:

+ Protein niệu chọn lọc: Khi thành phần Albumin chiếm trên 80% tổng lượng protein niệu. Thường do bệnh cầu thận gây ra, hay gặp nhất là hội chứng thận hư có tổn thương tối thiểu trên sinh thiết thận.

+ Protein niệu không chọn lọc: Khi Albumin chiếm dưới 80% tổng lượng protein niệu, loại này thường bao gồm hầu hết các thành phần protein có trong huyết tương. Hầu như tất cả các bệnh lý thận, tiết niệu đều thuộc loại protein niệu không chọn lọc này.

+ Protein niệu gồm phần lớn là các protein bất thường: Gồm một đỉnh nhọn của Beta hoặc gamma globulin, do bài tiết bất thường một Globulin miễn dịch đơn dòng chuỗi nhẹ, thường là Protein Bence-Jones. Protein này có đặc tính lý học là động vón ở nhiệt độ khoảng 500C và tan ra ở nhiệt độ 1000C. Đặc tính này có được khi trong thành phần Protein niệu có trên 50% là Protein Bence-Jones.

+ Các Protein ống thận: Chủ yếu là các Globulin trọng lượng phân tử thấp, các loại này dễ phát hiện khi điện di trên thạch Polyacrylamide. Với phương pháp này thì các protein với trọng lượng phân tử khác nhau có trong nước tiểu sẽ tách biệt nhau dễ dàng.

Các tình huống lâm sàng của protein niệu

– Gắng sức.

– Sốt cao.

– Nhiễm trùng đường tiểu.

– Suy tim phải.

– PolyGlobulin.

– Protein niệu tư thế.

Trong đó, cần chú ý đến Protein niệu tư thế: Là protein niệu thường gặp ở người trẻ và biến mất sau tuổi dậy thì. Protein niệu tư thế không có ý nghĩa bệnh lý.

Để chẩn đoán Protein niệu tư thế, phải khẳng định protein này biến mất ở tư thế nằm, bằng cách lấy nước tiểu sau khi cho người bệnh nằm nghỉ 2 giờ.

Protein niệu thường xuyên

Protein có thường xuyên trong nước tiểu thường là biểu hiện của bệnh lý thận tiết niệu hoặc có bất thường về protein huyết tương. Có thể phân loại protein niệu theo 3 loại như sau:

Protein niệu do tăng lưu lượng:

Xuất hiện một lượng lớn protein có trọng lượng phân tử thấp, các protein này được lọc qua các cầu thận bình thường. Khi lượng lọc ra vượt quá khả năng tái hấp thu của ống thận thì protein xuất hiện trong nước tiểu.

Trường hợp này được quan sát thấy trong các bệnh lý tiểu ra protein BenceJones (đa u tuỷ xương), tiểu ra Hemoglobin (do tan huyết) và tiểu ra Myoglobin (do huỷ cơ vân).

Protein niệu ống thận:

Thường không quá 2 gam/24 giờ. Gồm có 3 loại:

+Protein có trọng lượng phân tử trung bình (Beta 2 Microglobulin, Amylase) được lọc qua cầu thận nhưng ống thận không tái hấp thu hết.

+ Protein niệu do ống thận bị tổn thương bài tiết ra (N-Acetylglucosamin, Lysozym).

+ Protein Tamm-Horsfall.

Protein niệu cầu thận:

Trên điện di chủ yếu là Albumin, thường lượng nhiều, khi có trên 3,5 g/24 giờ/1,73 m2 da thì chẩn đoán hội chứng thận hư.

Một số điều cần chú ý khi phân tích Protein niệu

Protein niệu cao nhiều không do hội chứng thận hư mà có thể do tăng Globulin chuỗi nhẹ.

Lượng Protein niệu thường giảm xuống khi chức năng thận giảm dưới 50 ml/phút.

Một bệnh lý cầu thận có thể phối hợp với 1 bệnh lý thận kẽ hoặc bệnh mạch máu thận.

MicroProtein niệu: Được định nghĩa khi lượng protein niệu từ 30 – 300 mg/24 giờ, đây là một dấu chỉ điểm rất tốt và tương đối sớm trên lâm sàng cho bệnh cầu thận đái tháo đường. MicroProtein niệu có thể biến mất sau khi điều trị các thuốc ức chế men chuyển.

Protein Niệu: Nguyên Nhân, Dấu Hiệu Nhận Biết Và Ý Nghĩa Trong Chẩn Đoán Thận Tiết Niệu

Tin chuyên ngành  , 01-06-2020

Protein niệu có thể xuất hiện do một số nguyên nhân không phải tổn thương tại thận, và cũng có dấu hiệu, ý nghĩa giúp chẩn đoán các bệnh lý thận tiết niệu. Vậy nguyên nhân, dấu hiệu nhận biết của protein niệu là gì?

Protein niệu là gì?

Protein niệu là định nghỉ chỉ sự có mặt của protein trong nước tiểu. Bình thường, nước tiểu sẽ không có hoặc có rất ít protein do cơ thể sẽ tái hấp thụ protein ở thận.

Protein có trong nước tiểu kéo dài và nhiều sẽ làm thay đổi thành phần protein trong máu giảm, albumin giảm, globulin tăng.

Protein xuất hiện trong máu chủ yếu là tổn thương ở cầu thận. Bình thường cầu thận để cho tất cả các thành phần của huyết tương đi qua, trừ hemoglobin.

Nguyên nhân gây ra protein niệu

Chia làm 2 loại: Protein ngắn hạn và protein thường xuyên

Protein ngắn hạn

Do sốt: Bất cứ sốt do nhiễm khuẩn gì, nước tiểu đều sẽ có 1 lượng ít protein. Hết sốt thì protein sẽ không còn trong nước tiểu

Trong các bệnh: chấn thương sọ não, chảy máu não, màng não co giật cũng sẽ thấy xuất hiện protein ở nước tiểu

Trong bệnh tim: Suy tim phải, gây hiện tượng ứ đọng máu ở thận, áp lực máu trong vi quản cầu thận tăng lên, máu ở cầu thận lâu hơn, xuất hiện trong protein niệu. Khi suy giảm thì cũng sẽ hết protein niệu

Protein thường xuyên

Viêm thận

Viêm cầu thận cấp: thường gặp ở trẻ em hơn là người lớn. Thường bắt đầu bằng đau họng, sốt, tiểu ít và phù. Nước tiểu sẽ có protein, nhiều hồng cầu, bạch cầu, trụ hình hạt, ure máu cao

Viêm cầu thận mạn: Do viên chứng viêm cầu thận cấp hay gặp ở người lớn tuổi

Viêm ống thận cấp

Do ngộ độc chỉ, thuỷ ngâ, người bệnh không tiểu được, ure máu cao, nước tiểu có protein, nhiều hồng cầu, bạch cầu hình trụ hạt.

Thận nhiễm mỡ

Protein xuất hiện trong nước tiểu với hàm lượng cao 25g/l, nước tiểu có thể chiết quang, không có hồng cầu, bạch cầu, trụ hình hạt. Ure máu bình thường. Cholesterol và Lipid tăng cao, profit máu hạ. 

Bột thận

Do viêm hoặc nung mủ lâu ngày như cốt tuỷ viêm, lao, áp xe phổi,.. người bệnh phù to, gan, lách to. Nước tiểu có nhiều protein, không có trụ hạt, hồng cầu, bạch cầu

Ung thư

Xuất hiện protein do tiểu ra máu

Thận to

X quang có hình ảnh đặc biệt

Viêm mủ bể thận

Người bệnh tiểu ra mủ. Protein ở đây là do huỷ hoại tế bào. Nước tiểu có nhiều hồng cầu, nhất là bạch cầu thoái hoá

Protein xuất hiện trong nước tiểu khi có thai

Khi có thai, cơ thể trong tình trạng nhiễm độc, và thường xuất hiện protein ở nước tiểu vapof tháng thứ 3 do viêm thận nhiễm đọc. Những người có protein trong nước tiểu khi mang thai bắt đầu xuất hiện từ tháng thứ 6, phải đề phòng sản giật khi đẻ.

Protein Là Gì? Những Ý Nghĩa Của Protein

Blog chúng tôi giải đáp ý nghĩa Protein là gì

Protein là gì? Protein hay còn gọi là chất đạm, là những phân tử sinh học hay đại phân tử, chứa một hoặc nhiều mạch các acid amin, liên kết với nhau bởi liên kết peptid. Các protein khác nhau chủ yếu do về trình tự các acid amin khác nhau, trình tự này do các nucleotide của gen quy định.Trong tự nhiên có khoảng 20 acid amin, trong đó có 9 acid amin thiết yếu cơ thể không tự tạo ra được mà phải cung cấp từ bên ngoài, số còn lại gọi là acid amin không thiết yếu vì cơ thể có thể tự tổng hợp được.

Mỗi loại protein sau khi được tạo ra, chỉ tồn tại trong một khoảng thời gian nhất định, có loại chỉ tồn tại vài phút, có loại có thể tồn tại hàng năm. Sau đó, protein bị thoái hóa và được tái sinh bởi bộ máy tế bào thông qua quá trình luân chuyển protein. Do protein chiếm tới 50% khối lượng thô của tế bào, là thành phần thiết yếu cấu trúc, hình thành, duy trì, tái tạo cơ thể nên cơ thể cần bổ sung protein qua chế độ ăn hàng ngày. Nếu cơ thể thiếu protein sẽ dẫn đến nhiều hậu quả nghiêm trọng như suy dinh dưỡng, chậm lớn, hay ốm đau, bệnh tật do sức đề kháng giảm.

Protein cấu trúc nên khung tế bào, tạo các khung đỡ giúp duy trì hình dáng tế bào.

Là thành phần thiết yếu của cơ thể sinh vật, tham gia vào mọi quá trình bên trong tế bào. Protein là thành phần quan trọng của nhân tế bào, chất gian bào, duy trì và phát triển mô.

Là enzyme xúc tác cho các phản ứng sinh hóa, quá trình trao đổi chất.

Quá trình phát triển của cơ thể, từ việc hình thành cơ, đổi mới phát triển của tế bào, phân chia tế bào đều gắn liền với quá trình tổng hợp protein.

Phần lớn các chất vận chuyển các chất dinh dưỡng là protein. Protein vận chuyển các chất dinh dưỡng được hấp thu từ quá trình tiêu hóa thức căn vào máu, từ máu vận chuyển đến các mô, qua màng tế bào. Hemoglobin có trong hồng cầu là một protein có vai trò vận chuyển oxy lấy từ phổi cung cấp cho các tế bào khác trong cơ thể.

Protein cung cấp năng lượng cho cơ thể, chiếm 10-15% năng lượng của khẩu phần ăn. Protein là yếu tố chiếm nhiều sau nước, chiếm 50% trọng lượng thô ở người trưởng thành.

Protein có vai trò như chất đệm, giúp cân bằng pH, đảm bảo cho hệ tuần hoàn vận chuyển các ion.

Protein kéo nước từ tế bào và các mạch máu, giúp điều hòa nước trong cơ thể. Khi lượng protein trong máu thấp, áp lực thẩm thấu trong lòng mạch giảm sẽ xảy ra hiện tượng phù nề.

Các tế bào bạch cầu có thành phần chính là protein, có nhiệm vụ chống lại các tác nhân có hại xâm nhập cơ thể.

Hệ thống miễn dịch sản xuất các protein gọi là các interferon giúp chống lại virut, các kháng thể giúp cơ thể chống lại các tác nhân gây bệnh.

Nếu quá trình tổng hợp protein của cơ thể bị suy giảm thì khả năng bảo vệ cơ thể cũng yếu đi.

Cơ thể người trưởng thành mỗi ngày cần ít nhất 0,8 gam protein trên 1kg cân nặng. Ở những người thường xuyên tập luyện thể thao, vận động thể lực thì cần từ 1,2 đến 1,8 gam protein trên 1kg cân nặng. Như vậy, nếu một người cân nặng 60kg thì cần khoảng 48- 108g protein/ ngày. Chế độ ăn quá thiếu hay quá thừa protein đều không tốt cho sức khỏe. Có hai loại protein là protein hoàn chỉnh và protein không hoàn chỉnh. Protein hoàn chỉnh có trong các thức ăn nguồn gốc động vật, protein không hoàn chỉnh có trong thức ăn nguồn gốc thực vật. Nên sử dụng kết hợp các nguồn protein để cơ thể phát triển cân đối, khỏe mạnh. Một số loại thức ăn chứa nguồn protein dồi dào như:

Thịt: ngoài chứa nhiều protein, thịt còn chứa vitamin B cần thiết cho quá trình chuyển hóa thức ăn thành năng lượng. Một số loại thịt như thịt bò, thịt cừu còn cung cấp các nguyên tố vi lượng như sắt, kẽm.

Hải sản như tôm, mực, cá hồi,.. là những nguồn protein tốt cho sức khỏe, chứa nhiều omega-3 tốt cho tim mạch.

Trứng: một quả trứng chứa tới 6 gam protein. Trứng còn chứa nhiều vi chất dinh dưỡng để cấu tạo nên tế bào.

Đậu nành là một protein thực vật cung cấp nhiều acid amin thiết yếu. Các chất chống oxy hóa, chất xơ, vitamin, khoáng chất trong đậu này giúp phòng chống ung thư và giảm nguy cơ mắc các bệnh tim mạch.

Ngũ cốc: 26 gam ngũ cốc chứa tới 6 gam protein. Các protein được cung cấp từ mầm lúa mạch và ngũ cốc nguyên cám rất phong phú và chất lượng cao.

Khi chế độ ăn hàng ngày nghèo dinh dưỡng, không đáp ứng nhu cầu protein trong thời gian kéo dài, cơ thể có thể gặp các tình trạng như:

Yếu cơ, giảm cân, thậm chí mất cơ

Suy giảm miễn dịch: do protein cần thiết cho sản xuất, tổng hợp các kháng thể, giúp cơ thể phòng chống các tác nhân gây bệnh nên khi giảm các kháng thể sẽ làm suy giảm miễn dịch.

Kinh nguyệt bất thường ở phụ nữ

Cơ thể bị phù nề: do protein cấu tạo nên các tế bào, giúp duy trì cân bằng lượng chất lỏng trong cơ thể. Nếu cơ thể không đủ protein, những cấu trúc này bị phá vỡ, các chất lỏng bị rò rỉ, gây tình trạng phù nề, tích tụ chất lỏng.

Khó ngủ, tâm trạng thất thường

Gây nhiều hậu quả xấu cho sức khỏe, như đau khớp, tăng nguy cơ mắc bệnh gout, dễ mắc các bệnh viêm nhiễm, làm thiếu hụt canxi và vitamin D có thể gây mắc bệnh đa xơ cứng khi cao tuổi,…Các dấu hiệu cảnh báo tình trạng thừa protein bao gồm:

Tình trạng khát nước: khi ăn nhiều đạm thận phải làm việc nhiều hơn để thải bớt, lượng nước tiểu nhiều hơn và thường xuyên cảm thấy khát hơn.

Rối loạn tiêu hóa: chế độ ăn giàu đạm thường ít hoặc không có chất xơ, gây rối loạn tiêu hóa như táo bón, cảm giác trướng bụng, co thắt ruột,…

Tình trạng trầm cảm và lo lắng

Tăng cân, béo phì

Hơi thở có mùi

Để cơ thể phát triển khỏe mạnh, cần có chế độ ăn cân bằng, hợp lý, đa dạng các nguồn thực phẩm. Chú ý lựa chọn nguồn bổ sung protein thích hợp, kết hợp protein thực vật và động vật để đảm bảo lượng protein cung cấp cho cơ thể hàng ngày.Hạn chế các thức ăn protein giàu chất béo. Bổ sung chế độ ăn các chất xơ như rau, các loại hạt, trái cây để tăng cường hệ tiêu hóa, cung cấp vitamin, các khoáng chất. Bản chất của Protein là sự kết hợp của các Axit amin. Có khoảng 23 loại axit amin khác nhau cần thiết cho cơ thể để hoạt động một cách trơn tru nhất. Các loại axit này kết hợp với nhau tạo ra các loại Protein khác nhau. Nhưng với người tập Gym thì chỉ cần quan tâm tới 2 nhóm chính sau:

Axit Amin thiết yếu: Có khoảng 8-9 loại axit amin thiết yếu mà cơ thể lại không tự tổng hợp được và phải nhờ tới các loại thức ăn bên ngoài. Nếu để thiếu các chất này thì cơ thể chúng ta khó mà hoạt động bình thường được.

Các loại Axit amin không thiết yếu: 14-15 loại nhưng cơ thể lại có thể tự sản xuất để dùng và hấp thụ qua ăn uống.

Giá mà cơ thể tự sản xuất được các loại thiết yếu thì anh em đỡ tốn biết bao nhiêu đúng không nào

Câu trả lời là…cả 2 loại chúng ta đều cần phải sử dụng cho dù nó là thiết yếu hay không thiết yếu. Vì cơ thể phải cần tất cả chúng để vận hành các chúc năng khác nhau giúp bạn hành cơ thể hoạt động được tốt nhất. Protein đóng một vai trò trong hầu hết mọi quá trình sinh học, và các chức năng của chúng khác nhau.

Các chức năng chính của protein trong cơ thể là để xây dựng, củng cố và sửa chữa hoặc thay thế, chẳng hạn như mô.

Chúng có thể là cấu trúc, như collagen, chúng có thể là hoóc môn, như insulin, chúng có thể là chất mang, ví dụ như hemoglobin, hoặc chúng có thể là các enzyme, chẳng hạn như amylase. Tất cả đều là protein.

Keratin là một protein cấu trúc tăng cường lớp phủ bảo vệ, chẳng hạn như tóc. Collagen và elastin cũng có chức năng cấu trúc và chúng cũng hỗ trợ cho mô liên kết.

Enzyme là chất xúc tác. Điều này có nghĩa là chúng đẩy nhanh các phản ứng hóa học. Chúng cần thiết cho hô hấp trong tế bào người, ví dụ, hoặc quang hợp trong thực vật.

Chúng ta có 2 nguồn cung cấp Protein chính là thực vật và động vật.

Protein động vật: Hay còn gọi là Protein đầy đủ, cung cấp cho chúng ta các loại axit amin thiết yếu, chúng có nhiều trong thịt gà và trứng, sữa, một số loại đậu. Chúng chiếm khoảng 75% tổng lượng Protein hằng ngày của chúng ta.

Protein động vật: Còn gọi là Protein không đầy đủ, cung cấp các loại Protein không thiết yếu từ rau, củ quả.

Protein Thực Vật So Với Whey Protein » The An Organics

Protein đóng một vai trò quan trọng trong cơ thể. Bạn cần biết rằng nó cực kỳ quan trọng và nếu không tiêu thụ đủ một lượng nhất định trong chế độ ăn uống của mình, sức khoẻ của bạn có thể bị ảnh hưởng và tất nhiên là không thể có làn da đẹp được

Vai trò của protein – Protein giúp hình thành, duy trì và thay thế các tế bào trong cơ thể. Protein chiếm tới trên 50% khối lượng khô của tế bào và là vật liệu cấu trúc của tế bào. Thiếu protein dẫn đến suy dinh dưỡng, chậm lớn, suy giảm miễn dịch, ảnh hưởng xấu đến chức năng của các cơ quan trong cơ thể.

– Protein cần thiết cho chuyển hóa bình thường các chất dinh dưỡng khác, đặc biệt là các vitamin và chất khoáng. Khi thiếu protein, nhiều vitamin không phát huy đầy đủ chức năng của chúng mặc dù không thiếu về số lượng.

Protein thực vật có tốt hơn Whey Protein không ?

Các nguồn protein tốt nhất 

Khi nói đến việc chọn loại bột protein phù hợp để bạn kết hợp chúng vào thói quen sử dụng của mình, có rất nhiều thông tin có thể gây hiểu nhầm. Vậy sự khác biệt là gì và cái nào thực sự tốt hơn cho sức khoẻ. Không giống như whey protein, protein thực vật hoàn hảo cho những ai đang tìm kiếm một loại protein sạch và một lối sống lành mạnh. Vậy tại sao protein thực vật có thể là sự lựa chọn tốt hơn so với whey protein :

⁃ không chứa phụ phẩm từ động vật 

⁃ Chất dinh dưỡng đậm đặc 

⁃ Tăng độ dày cho cơ

⁃ Ít xảy ra dị dứng 

⁃ Không chứa tác dụng phụ của whey

Sự khác biệt giữa whey protein và protein thực vật là gì ?

Whey là sản phẩm phụ của quá trình sản xuất phô mai. Nó có nguồn gốc từ sữa bò. Sữa được làm từ hai loại protein:  whey và casein. Một trong những vấn đề xoay quanh whey protein là tiêu hoá. Người tiêu dùng hay phàn nàn khi có những triệu chứng buồn nôn, đầy hơi, táo bón và co thắt dạ dày. Điều này rất có thể là do nhiều người gặp vấn đề với việc tiêu hoá sữa.

Không giống như whey, protein thực vật hoàn toàn có nguồn gốc từ thực vật. Thông thường, các loại thực phẩm như đậu, ngũ cốc và gạo là nguồn cung cấp bột protein từ thực vật. Nó có thể đến từ một số nguồn cung cấp như : 

Đậu Hà  Lan

Cây gai dầu

Gạo lứt

Hạt hướng dương, bí, hạt chia

Hạt diêm mạch 

Nhiều người thường chọn whey vì nó là nguồn cung cấp protein hoàn chỉnh. Một nguồn protein hoàn chỉnh chứa tất cả 9 axit amin thiết yếu mà bạn cần cho cơ thể thông qua chế độ ăn uống. Axit amin thường được coi là khối cấu tạo của protein và rất quan trọng để xây dựng cơ bắp.

Bột protein thực vật là sự pha trộn của các nguồn thực vật tự nhiên. Khi bạn kết hợp các thành phần thực vật này, nó không chỉ tạo ra một nguồn protein hoàn chỉnh mà còn chứa đầy các chất dinh dưỡng, chất xơ có lợi cho đường ruột và các đặc tính xây dựng cơ bắp. 

Lợi ích của protein thực vật là gì 

Không có phụ phẩm từ động vật

Một trong những lợi ích rõ ràng nhất của protein thực vật là nó không có các sản phẩm từ động vật. Cho dù bạn ăn chay trường hay chỉ muốn giảm lượng khí thải carbon của mình ra môi trường bạn đều có thể sử dụng.

Với nhu cầu ngày càng tăng về các lựa chọn protein thuần chay và những lo ngại xung quanh vấn đề đạo đức, môi trường, dị ứng và an toàn thực phẩm, có rất nhiều lựa chọn khi nói đến protein có nguồn gốc thực vật. Việc tìm kiếm các lựa chọn thay thế không có đậu nành, không có sữa cũng thúc đẩy sự đa dạng dẫn đến nhiều cơ hội tiếp cận và lựa chọn hơn cho người tiêu dùng.

Chứa nhiều chất dinh dưỡng khác nhau so với whey protein

Không giống như whey protein, protein thực vật bao gồm các chất dinh dưỡng khác có trong thực vật như chất xơ, sắt và chất chống oxy hoá. Bạn sẽ nhận được cùng một lượng protein so với việc sử dụng whey protein và còn bổ sung các chất dinh dưỡng cần thiết khác như chất xơ và sắt.

Ngoài ra , nó còn chứa một lượng chất béo lành mạnh giúp giảm cholesterol xấu. Có thể nói protein thực vật là một nguồn chất xơ tốt, tự nhiên và không gây dị ứng, lý tưởng cho hầu hết mọi chế độ ăn.

Thực vật chứa nhiều chất xơ là một phần thiết yếu của chế độ ăn uống lành mạnh. Nó giữ cho hệ tiêu hoá của bạn hoạt động trơn tru và giúp bạn cảm thấy no lâu hơn. Điều này thực sự quan trọng khi nói đến việc giảm/ duy trì cân nặng.

Tăng độ dày cơ 

Khi so sánh protein từ đậu Hà Lan và whey protein, một nghiên cứu cho thấy những người sử dụng protein từ đâu đậu có độ dày cơ tăng lên đáng kể. Điều này đặc biệt có lợi cho những người mới bắt đầu hoặc quay trở lại quá trình tăng cường cơ bắp .

Protein thực vật thực sự có thể giúp bạn xây dựng cơ bắp tốt hơn so với whey protein. Điều đó có nghĩa là protein có nguồn gốc thực vật có hiệu quả tương đương hoặc hơn whey protein. Do đó, lợi ích của protein thực vật vượt xa lợi ích của whey protein.

Thành phần không gây dị ứng 

Từ việc hướng đến một lối sống toàn diện đến giảm hoặc loại bỏ lượng thực phẩm động vật của bạn, bột protein từ thực vật có thể giúp bạn đạt được mục đích rèn luyện thể thao của mình mà không gặp phải những tác dụng phụ không cần thiết do tiêu thụ whey protein 

Tác dụng phụ của whey protein là gì?

Vấn đề tiêu hoá 

Khi bạn tiêu thụ protein, cơ thể bạn cần tiêu hoá và hấp thụ để nhận về những lợi ích. Nhưng nếu bạn hấp thụ quá nhiều một chất dinh dưỡng đa lượng như whey, bạn có thể làm mất khả năng xử lý của đường tiêu hoá .

Tác động này có thể dẫn đến khó tiêu và các vấn đề về tiêu hoá như đầy hơi, đau bụng. Một số người gặp vấn đề về tiêu hoá whey protein cũng có thể bị tiêu chảy, chuột rút. Nếu bạn gặp các vấn đề về tiêu hoá hoặc cảm thấy táo bón khi sử dụng quá nhiều whey protein, bạn có thể cân nhắc việc sử dụng protein thực vật để thay thế.

Các loại protein thực vật này rất dễ tiêu hoá và là nguồn cung cấp protein và carbohydrate phức hợp, tốt cho sức khoẻ. Hãy luôn đảm bảo rằng bạn có được loại bột protein thực vật tốt nhất và phù hợp với mình .

Không dung nạp đường lactose

Không dung nạp  lactose khiến bạn có các triệu chứng như đầy hơi, chướng bụng và tiêu chảy sau khi bạn sử dụng thực phẩm hoặc đồ uống có chứa lactose. Chứng không dung nạp lactose rất phổ biến trên thế giới với 75% dân số bị ảnh hưởng.

Lactose chính là carbohydrate chính trong whey protein. Những người không dung nạp lactose thường không có đủ enzym lactase( cơ thể bạn cần enzym này để xử lý  lactose).

Nếu bạn không sử dụng thực phẩm có chứa lactose hoặc bị dị ứng sữa bò thì whey protein có thể khiến bạn gặp vấn đề về tiêu hoá. Hãy thử bột protein từ thực vật để tránh lactose và sữa. Những lợi ích của bột protein gạo bao gồm tăng trưởng cơ bắp, khả năng đốt cháy chất béo và khả năng tiêu hoá.

Mức insulin cao 

Whey là một loại thực phẩm dễ gây nghiện. Điều này có nghĩa là nó kích hoạt một lượng lớn insulin sau khi bạn tiêu thụ. Đây có thể là vấn đề nếu sử dụng lâu dài vì tăng insulin máu có thể dẫn đến kháng insulin. Whey cũng kích thích giải phóng các hormone đường tiêu hoá, GIP và GLP-1 đều có thể làm tăng mức insulin .

Một nghiên cứu  cho thấy rằng so với một bữa ăn bánh mì, whey làm tăng insulin sau khi ăn và phản ứng GIP và GLP-1. Một nghiên cứu khác  cho thấy thêm whey sẽ kích thích giải phóng insulin.

Nếu bạn mắc bệnh tiểu đường, whey có thể ngăn bạn kiểm soát lượng đường của mình. Ngay cả khi bạn không bị tiểu đường, việc insulin tăng đột biến liên tục trong cơ thể cũng không tốt cho cơ thể bạn .

Các protein có nguồn gốc thực vật đã được chứng minh là không tăng mức insulin của bạn, vì vậy chúng có thể là một lựa chọn tốt để bạn kiểm soát insulin của bản thân .

Mụn trứng cá. 

Khi đang cố gắng tập luyện, xây dựng cơ bắp bạn thường sử dụng whey protein. Tuy nhiên, nghiên cứu cho thấy rằng nó có thể gây ra mụn trứng cá, thường là dấu hiệu của sự mất cân bằng hệ vi sinh vật có thể gây ra do dị ứng sữa.

Một nghiên cứu quan sát những người tham gia bổ sung whey kết luận rằng tiêu thụ whey dẫn đến bùng phát mụn trứng cá. Điều này có thể là do thực tế sữa được biết là một tác nhân gây ra mụn trứng cá. Vì whey là một sản phẩm từ sữa nên nó cũng gây ra mụn trứng cá .

Một nghiên cứu khác cho thấy những người tham gia đã bị mụn khi tiêu thụ whey và thấy rằng họ giảm mụn sau khi ngừng uống whey .

Nếu bạn nhận thấy làn da của bạn thường xuyên bị mụn và bản thân bạn thường xuyên sử dụng whey protein, bạn nên chuyển sang một loại protein có nguồn gốc thực vật.

PROTEIN THỰC VẬT HỮU CƠ Sunwarrior

Protein Sunwarrior Warrior blend là hỗn hợp protein phong phú từ các loại thực vật, có hương vị tuyệt vời, vượt trội hoàn toàn so với các thành phần riêng lẻ. Triglyceride chuỗi trung bình từ dừa hoạt động phối hợp với các thành phần khác để tạo ra một loại protein thuần chay độc đáo đặc biệt giàu axit amin và BCAAs.

Đậu hà lan (lên men) Ít calo, nhiều chất xơ, protein có cấu hình axit amin hoàn chỉnh với lượng BCAAs đáng kể. Protein đậu giúp xây dựng và duy trì khối lượng cơ nạc, làm tăng quá trình trao đổi chất và đốt cháy chất béo.

Hạt cây gai dầu Một protein sợi hoàn chỉnh, chứa các khối xây dựng cho các enzyme chuyển hóa. Siêu thực phẩm này có nhiều axit béo omega-3 và omega-6 (tỷ lệ 3: 1) hỗ trợ tim và hệ miễn dịch. Hạt gai dầu chứa nhiều vitamin và khoáng chất, dễ tiêu hóa và hấp thụ nhằm cung cấp năng lượng nhanh chóng.

Kỳ tử Những quả mọng này là một trong những loại trái cây duy nhất chứa tất cả các axit amin thiết yếu. Kỳ tử là một siêu thực phẩm đậm đặc chất dinh dưỡng, cung cấp chất chống oxy hóa, vitamin và carotenoids.

Dừa Dừa chứa các axit béo thiết yếu tồn tại với lượng vừa đủ để được đốt cháy thành năng lượng, thay vì lưu trữ dưới dạng chất béo. MCT, cũng giúp hỗ trợ phản ứng viêm khỏe mạnh, tăng cường hệ thống miễn dịch và tăng cường phục hồi cơ bắp sau khi tập thể dục.

Chọn sản phẩm bổ sung Protein, Collagen phù hợp với bạn

CHAT VỚI AN

Cho điểm nhanh post này