Top 19 # Xem Nhiều Nhất Ý Nghĩa Nhân Đạo La Gì / 2023 Mới Nhất 12/2022 # Top Like | Shareheartbeat.com

4 Ý Chính Của Chủ Nghĩa Nhân Đạo Và Cảm Hứng Nhân Đạo / 2023

Cảm Hứng Nhân Đạo là gì?

Cảm Hứng Nhân Đạo là cảm hứng của tình thương con người theo từng giai đoạn, thời điểm. Cốt lõi của cảm hứng nhân đạo là tình yêu, lòng thương nhân loại. Bản chất của cảm hứng nhân đạo là chữ tâm đối với con người.

Trong tác phẩm mang cảm hứng nhân đạo khi ta thấy sự ca ngợi phẩm chất cao đẹp của con người với con người, không những thế phải đồng cảm xót thương cho những số phận bi ai bị chà đạp, lên án tố cáo những thế lực thù địch, đồng thời cũng phải biết đồng tình với khát vọng và ước mơ của con người.

Chủ nghĩa nhân đạo (Tiếng Anh: humanism), còn gọi là chủ nghĩa nhân văn, là toàn bộ những tư tưởng quan điểm, tình cảm quý trọng các giá trị của con người như trí tuệ, tình cảm, phẩm giá, sức mạnh, vẻ đẹp.

Chủ nghĩa nhân đạo không phải là một khái niệm đạo đức đơn thuần , mà còn bao hàm cả cách nhìn nhận, đánh giá con người về nhiều mặt (vị trí, vai trò, khả năng, bản chất…) trong các quan hệ với tự nhiên, xã hội và đồng loại.

Thế giới sáng tạo ra trong văn học và bằng văn học nghệ thuật từ xưa đến nay là một thế giới mà trong đó con người luôn đấu tranh chống lại mọi thế lực thù địch luôn xuất hiện dưới mọi hình thức, để khẳng định chính mình, khẳng định quyền năng và sức mạnh của mình, đồng thời thể hiện khát vọng làm người mãnh liệt và cao đẹp của mình.

Lòng yêu thương, ưu ái đối với con người và thân phận của nó từ trước đến nay vẫn là sự quan tâm hàng đầu của các nhà văn, nhà nghệ sĩ trong cảm hứng sáng tạo của nghệ thuật.

BIỂU HIỆN CỦA CHỦ NGHĨA NHÂN ĐẠO

Biểu hiện của chủ nghĩa nhân đạo rất đa dạng, là toàn bộ những tư tưởng, quan điểm quý trọng các giá trị của con người, nhưng trong văn học có thể phân ra bốn biểu hiện chính, đó là: thông cảm, thấu hiểu cho số phận con người; khám phá và tôn vinh vẻ đẹp con người; tố cáo, phê phán những thế lực chà đạp lên con người; nâng niu ước mơ của con người hay mở ra một tương lai tươi sáng cho con người.

1.THÔNG CẢM, THƯƠNG XÓT CHO SỐ PHẬN ĐAU KHỔ CỦA CON NGƯỜI

Chủ nghĩa nhân đạo trước hết bắt đầu tự sự thương yêu con người, mà hạt nhân của nó chính là trái tim giàu lòng yêu thương của nhà văn. Balzac đã từng nói: “nhà văn là thư kí trung thành của thời đại”, Nam Cao thì nói: “sống đã, rồi hãy viết, hãy hòa mình vào cuộc sống của quần chúng nhân dân”, Enxa Triole: “Nhà văn là người cho máu”.

Đúng như vậy, quá trình sáng tạo là một quá trình gian khổ và quang vinh, đòi hỏi mỗi nhà văn phải dốc toàn bộ mồ hôi, nước mắt, thậm chí là máu của mình, dốc hết bầu máu nóng trong tim để giao cảm với đời, mở rộng tâm hồn để đón nhận những vang vọng tha thiết của cuộc đời.

Hơn ai hết họ đã khóc với những nỗi đau của thời đại, đã mỉm cười cùng nỗi hân hoan của thời đại, và hơn ai hết họ hiểu thấu những ước mơ tha thiết, những khát khao cháy bỏng của con người thời đại. Mỗi nhà văn, trong quá trình sáng tác, trước hết phải là “nhà nhân đạo” từ trong cốt tủy”(Sêkhov).

Bởi nếu không phải nhà nhân đạo, nếu không có tấm lòng yêu thương con người và sẵn sàng hy sinh cho con người, thì làm sao anh ta có thể viết, làm sao anh ta có thể, như loài phượng hoàng lửa trong truyền thuyết, trầm mình vào lửa đỏ để làm nên sự hồi sinh của cuộc sống – chính là những tác phẩm thẫm đẫm tính nhân đạo, thấm đẫm tình yêu thương con người, những tác phẩm như phập phồng hơi thở của thời đại, như đang chảy trong từng vân chữ những giọt máu của thời đại.

Những tác phẩm mà, mỗi trang giấy là một số phận được trải ra trước mắt người đọc, từng số phận là những tiếng kêu khóc đau đớn cho những kiếp người, từng con chữ cất lên đều ám ảnh, day dứt khôn nguôi.

Như vậy chúng ta thấy rằng, biểu hiện trước tiên của chủ nghĩa nhân đạo chính là sự thông cảm, thấu hiểu cho số phận con người. Điều này có ý nghĩa giáo dục rất sâu sắc. Như nhà văn Nam Cao đã từng nhận xét, tác phẩm văn học chân chính là tác phẩm văn học làm cho con người “gần người hơn”.

Người đọc tìm đến tác phẩm văn học với nhiều mục đích, nhưng cao cả hơn cả vẫn là để thanh lọc tâm hồn, để tâm hồn mình phong phú hơn, trong sạch hơn.

Đến với những số phận gửi gắm trong văn học, họ được sống nhiều hơn, được trải nghiệm nhiều hơn, nhưng hơn cả là, họ được xúc cảm nhiều hơn, suy tư nhiều hơn, họ được khóc với nỗi đau của đồng loại, được reo vui với niềm vui của đồng loại. Văn học giúp cho trái tim mỗi con người trở nên nhạy cảm hơn, bao dung hơn, nhân hậu hơn.

Chủ nghĩa nhân đạo không chỉ là những tư tưởng, quan điểm tôn vinh cái đẹp của con người, mà hơn hết, chủ nghĩa nhân đạo chính là sự tạo dựng nên cái đẹp trong tâm hồn của con người, mà ở trong trường hợp này, chính là người đọc.

Quá trình thanh lọc tâm hồn này của người đọc là quá trình tự ý thức, từ đồng cảm, thương xót cho đồng loại mà bồi đắp, luyện rèn lên những giá trị trong tâm hồn mình (lòng nhân hậu, lòng nhân ái…).

Như vậy chúng ta thấy, nhờ có chủ nghĩa nhân đạo, văn học không chỉ phát hiện hạt ngọc ẩn giấu trong tâm hồn người, mà còn giúp cho hạt ngọt ấy sáng hơn, đẹp hơn, và gieo vào từng tâm hồn những hạt ngọc long lanh, sáng ngời.

2. TRÂN TRỌNG, TÔN VINH VẺ ĐẸP CỦA CON NGƯỜI

Đối tượng phản ánh của văn học chính là con người, Maxim Gorki từng nói: “Văn học là nhân học”, còn với Nguyễn Minh Châu thì: “cuộc đời và nghệ thuật là hai vòng tròn đồng tâm mà tâm điểm chính là con người”. Văn học không thể không phản ánh con người. Nhưng vấn đề là, phản ánh con người ở phương diện nào, và phản ánh con người như thế nào?

Văn học quan tâm đến con người trên phương diện xã hội, văn học, thông qua các mối quan hệ xã hội để dựng nên hình tượng con người như những tính cách, đó là con người đạo đức, con người chính trị, con người tâm trạng, con người hành động v.v.

Nhưng quá trình phản ánh con người này cũng không hề giản đơn, khuôn mẫu, loại bỏ những chỉ tiết để khái quát thành những định lí, định đề, những quy tắc, chuẩn mực như lịch sử, triết học, đạo đức học.

Văn học phản ánh con người vừa trực quan vừa khách quan, một mặt miêu tả con người sống động như chính nó trong đời sống, mặt khác lại nhìn nó với cái nhìn thấm đẫm sự cảm thông, yêu thương – cái nhìn đậm chất nhân đạo của người nghệ sĩ.

Hình tượng con người trong văn học luôn là sự tổng hòa của cái chung và cái riêng, cái khái quát và cái cụ thể, cái chủ quan và cái khách quan, nó là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan, là con người sống động của hiện thực dưới cái nhìn giáu tình cảm, giàu sự thấu hiểu của người nghệ sĩ.

Nhưng điều khác biệt cơ bản nhất giữa văn học và các ngành khoa học xã hội khác đó chính là sự phản ánh con người trên phương diện cái đẹp. Dovtopxki từng nói: “Cái đẹp cứu chuộc thế giới”. Đúng như vậy, muôn đời, văn học nghệ thuật chân chính là văn học “tôn vinh con người”.

Văn học là sản phẩm của quá trình sáng tạo theo quy luật của cái đẹp, con người trong văn học cũng chính là con người được sáng tạo theo quy luật của cái đẹp. Con người bước vào văn học với nhiều vẻ đẹp rất đa dạng.

Đó có thể là nhan sắc tuyệt mỹ của nàng Kiều “hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh”, đó có thể là cái đẹp tài năng như của người nghệ sĩ Vũ Như Tô khi xây Cửu Trùng Đài, có thể “điều khiển gạch đã như người tướng khiến bỉnh”, có thể xây lên những công trình tranh tài cùng hóa công.

Nhưng văn học, quan tâm nhất vẫn là vẻ đẹp tâm hồn của con người, nhiệm vụ hàng đầu của văn học vẫn là tìm kiếm hạt ngọc ẩn giấu trong tâm hồn con người. Quá trình tìm kiếm vẻ đẹp ấy đòi hỏi rất nhiều công sức, trí tuệ, tình cảm của người cầm bút.

Người nghệ sĩ trước hết phải là những con người biết dấn thân, biết đạp lên những định kiến cố hữu của con người và xã hội để nhìn con người một cách người nhát.

Nam Cao, để khám phá được khao khát sống trong Chí Phèo, đã phải cùng nhân vật của mình quằn quại trong cuộc lột xác đầy đau đớn từ một con quỷ thành một con người, để làm nên từng trang văn dữ dội như lửa cháy, đồng thời, nhà văn tài ba ấy cũng phải đạp lên những định kiến của người đời, phải tách rời khỏi những kẻ nhìn Chí Phèo như quỷ dữ, để nhìn anh như một con người.

Chỉ ở góc nhìn đó, nhà văn mới có thể đau đớn đến tận cùng cùng với nỗi đau của nhân vật, mới có thể từ cùng cực của bi kịch gạn lọc nên viên ngọc tươi trong: khát khao sống, khát khao lương thiện của một con người.

Có thể nói quá trình tìm kiếm hạt ngọc trong tâm hồn con người là quá trình khó khăn nhất. Bởi con người là một thực thể phức tạp, tâm hồn con người vốn là một mảnh đất hãy còn bị phủ bởi lớp sương mờ kín.

Con người ta cũng chẳng thể hiểu được chính bản thân mình, thì làm sao người khác có thể hiểu kín kẽ, cùng tận? Để khám phá được những vẻ đẹp bên trong của con người, cần đến những tài năng thật sự.

Mỗi nhà văn trong cuộc ngụp lặn vào thế giới sâu kín của tâm hồn với những biến thái tinh vi, phức tạp, phải có một sự nhạy cảm thiên bẩm và một trái tim hừng hực yêu thương.

Đôi mắt của anh ta phải là đôi mắt tinh tường, đôi mắt xuyên thấu, đôi mắt thấu hiểu, anh ta phải nhìn thấy được từ những biểu hiện bên ngoài nhỏ nhất của con người những biến động tinh vi của tâm hồn bên trong, và anh ta phải biết cách tạo cho những phát hiện của mình một hình hài sắc vóc tương xứng – lớp ngôn từ nghệ thuật sinh động, hấp dẫn.

3. TỐ CÁO, PHÊ PHÁN CÁC THẾ LỰC CHÀ ĐẠP LÊN CON NGƯỜI

Văn học đồng cảm, xót xa cho số phận của con người, văn học trân trọng, tôn vinh vẻ đẹp của con người, thì văn học cũng tố cáo, phê phán những thế lực chà đạp lên con người.

Quá trình đồng cảm, quý trọng con người và quá trình tố cáo, phê phán những thế lực chà đạp lên con người là hai mặt của một đồng xu, luôn đi liền với nhau, có mối quan hệ mang tính biện chứng.

Càng đồng cảm, xót xa cho số phận con người, sẽ càng căm ghét, phẫn nộ với những thế lực đày đọa con người. Càng trân trọng, nâng niu vẻ đẹp của con người, sẽ càng khinh ghét, kinh tởm những thế lực chà đạp, làm vấy bẩn vẻ đẹp ấy.

Chủ nghĩa nhân đạo, do vậy, không chỉ là sự nâng niu trân trọng những vẻ đẹp của con người, mà còn muốn biến văn học thành một thứ vũ khí đấu tranh cho quyền sống của con người.

Một khía cạnh không thể không nhắc đến của chủ nghĩa nhân đạo chính là tính chiến đấu rất cao của nó. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nhắn nhủ với các nghệ sĩ: “Văn hóa nghệ thuật cũng là một mặt trận/Anh chị em là chiến sĩ trên mặt trận ấy.”

Phương thức chiến đấu của văn học là sự phản ánh, bóc trần, là sự tố cáo. Đỉnh cao của tính chiến đấu chính là bút pháp trào phúng. Nhưng văn học, ngay cả khi không sáng tác bằng bút pháp trào phúng, cũng có tính chiến đấu nhất định của nó.

Bản thân sự phản ánh của văn học đã có ý nghĩa riêng của nó. Văn học phản ánh cái xấu xa, cái tàn nhẫn, cái vô nhân, cái giả dối, bao giờ cũng đặt nó trong đối sánh với cái tốt đẹp, cái lương thiện, cái nhân hậu, cái chân thật. Nhà văn Nguyễn Khải từng nói: “”Văn chương có quyên nhưng không chỉ miêu tả cái xấu xa ghê tởm, hèn nhát.

Thanh nam châm thu hút mọi thế hệ văn là cái cao thượng, cái tốt đẹp, cái thủy chung”. Văn học nghệ thuật, dù là trong văn học dân gian hay văn học hiện đại, vẫn luôn tồn tại sự phản ánh thiện – ác, tốt – xấu, thật – giả trong sự đối chiếu, so sánh này, cũng ví như thiện – ác, tốt – xấu, thật – giả trong đời sống luôn song hành, giao tranh dữ dội để loại trừ lẫn nhau vậy.

Nhiệm vụ muôn đời của văn học chính là tô đậm cái xấu, phát giác cái xấu để con người có thể nhận biết nó, và từ từ hình thành trong con người sự căm ghét cái xấu xa, cái đê hèn, cái giả dối. Quá trình này luôn phải diễn ra song song với quá trình tôn vinh cái tốt, căm ghét cái xấu xa, cái đê hèn, cái giả dối cũng chính là nâng niu, quý trọng cái tốt đẹp, cái cao cả, cái chân thật.

Để làm được điều này, người nghệ sĩ đồng thời cũng phải là người chiến sĩ, và đòi hỏi đầu tiên của họ chính là sự dũng cảm. Như nhà văn vĩ đại, người phản biện duy nhất của văn học Xô Viết, đồng thời cũng là người có số phận đầy đau đớn, Mikhail Bulgakhov đã từng tâm niệm, nhà văn là không có quyền im lặng.

Một nhà văn dốc bầu máu nóng để yêu thương con người, để lòng mình lắng lại với những nỗi đau đời đau người tha thiết, là nhà văn không thể câm lặng trước cường quyền, trước bạo lực, trước tàn nhẫn, là nhà văn không thể thản nhiên khi nhìn thấy con người bị chà đạp, bị vùi dập, là nhà văn không thể câm lặng trước giọt nước mắt của con người!

Ngôn từ chính là vũ khí, trí tuệ chính là vũ khí, tình cảm chân chính chính là vũ khí – những nhà văn chân chính từ bao đời nay vẫn chiến đấu cho cuộc sống của con người như thế. Họ chính là những nhà nhân đạo chủ nghĩa lớn, là những nghệ sĩ vĩ đại.

4. THẤU HIỂU, NÂNG NIU ƯỚC MƠ CỦA CON NGƯỜI

Theo quy luật của quá trình sáng tạo, điểm đến cuối cùng của văn học bao giờ cũng là cuộc đời. Tố Hữu từng nói: “Cuộc đời là điểm khởi đầu và là điểm đi tới của văn chương” . Tác phẩm không kết thúc khi trang sáng đóng lại, mà đó là lúc tác phẩm mở ra, để bước vào cuộc đời, để cải tạo cuộc đời.

Tác phẩm nghệ thuật có sức sống lâu dài phải là tác phẩm có ích cho xã hội. Thế nào là có ích? Đó là tác phẩm phải làm con người trở nên tốt đẹp hơn, phải thông qua mỗi con người để “dùng lực lượng vật chất đánh đổ lực lượng vật chất”, để cải tạo và làm cuộc sống tươi đẹp hơn, đáng sống hơn.

Để thực hiện được nhiệm vụ cao cả của văn chương, trước hết mỗi nhà văn phải là một nhà tư tưởng. Đỉnh cao nhất của mỗi tác phẩm chính là thông điệp tư tưởng của nó.

Qua tác phẩm của mình, nhà văn phải bày tỏ quan điểm của mình về một vấn đề nào đó trong cuộc sống, đóng góp một giải pháp, hoặc chí ít, phải gợi ra được những vấn đề cấp thiết của xã hội và khiến chúng ám ảnh người đọc, lôi kéo người đọc vào quá trình suy nghĩ trăn trở của nhà văn, đối thoại cùng nhà văn để xây dựng cuộc sống tốt đẹp hơn.

Nhà văn Ý Claudio Magrid đã từng nói: “Văn chương không cần những câu trả lời mà nhà văn đem lại, văn chương chỉ cần những câu hỏi mà nhà văn đặt ra, mà những câu hỏi này, luôn rộng hơn bất kì câu trả lời tường tận, cặn kẽ nào”.

Việc đưa ra giải pháp của mình cho các vấn đề của cuộc sống không gì trực quan hơn là thông qua tác phẩm, thông qua số phận nhân vật. Đó là lúc văn học có những nhân vật có tương lai tươi sáng, có những hành động dũng cảm thay đổi nghịch cảnh, để cứu chính bản thân mình.

Văn học chúng ta đã có cả một thời kì sáng tác theo khuynh hướng hiện thực xã hội chủ nghĩa với Mỵ, với Tràng… họ đề là những nhân vật điển hình của phương pháp hiện thực xã hội chủ nghĩa, đều là những con người, hoặc có những hành động táo bạo để thay đổi số phận, hoặc có sự thức tỉnh cần thiết tất yếu sẽ dẫn đến những hành động thay đổi số phận.

Chúng ta cũng có cả một thời kì văn học khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn cách mạng với cái nhìn lạc quan hướng về tương lai tươi sáng mang âm hưởng anh hùng ca hào hùng của thời đại.

Những hình tượng nhân vật có cái nhìn về tương lai tươi sáng, rộng mở, chính là những minh chứng cụ thể nhất cho cái nhìn của chủ nghĩa nhân đạo: cái nhìn lạc quan hướng đến tương lai, hướng về một cuộc sống xán lan, đầy hứa hẹn.

Tuy vậy, văn học không bao giờ là loa phát ngôn tư tưởng của nhà văn, nhân vật bao giờ cũng có những sự vận động nội tại riêng của nó, chịu sự chi phối của các quy luật khách quan của thời đại, chịu sự chi phối của sự vận động khách quan của lịch sử.

Hay nói cách khác, có những nhân vật, đặt trong thời đại sống của mình, không bao giờ có thể có được một cái kết có tương lai tươi sáng. Solokhov không mong muốn Grigori trong “Sông đông êm đềm” có số phận bi kịch đau khổ đến tận cùng, mất hết tất cả, gia đình, cuộc sống và hoàn toàn lạc lối, nhưng thời đại của nhân vật không cho phép nhân vật có cái két khác đi.

Cái gọi là chủ nghĩa hiện thực nghiêm nhặt không nằm ở chỗ đẩy nhân vật vào tận cùng bi kịch, tạo cho nhân vật cái kết đau đớn bi thảm cùng cực, mà nó nằm ở chỗ, vì nhà văn tôn trọng sự vận động của hiện thực khách quan nên không thể không phản ánh nó một cách chân xác (dù nó dẫn đến những tấn bi kịch đầy đâu đớn).

Nhưng vấn đề đặt ra là, liệu rằng khi chịu sự chi phối của chủ nghĩa hiện thực nghiêm nhặt như vậy, liệu rằng nhà văn ấy có thể trở thành nhà nhân đạo chủ nghĩa?

Khi hoàn cảnh không thể cho nhân vật một tương lai tươi sáng, một cái nhìn lạc quan vào tương lai, thì nhà văn vẫn phải có một cái nhìn vào tương lai, với một niềm mong mỏi vào một sự thay đổi.

Đó chính là sự khám phá ra những ước mơ của con người và kêu gọi sự thay đổi để con người có thể thực hiện được ước mơ của mình, để có thể sống người nhất. Bi kịch vỡ mộng và bi kịch tinh thần của Hộ trong “Đời thừa” của Nam Cao là tấn bi kịch không có lối thoát.

Dù nhân vật có thức tỉnh thế nào, một khi hoàn cảnh không thay đổi, một khi anh ta còn là “kiếp người bị cơm áo ghì sát đất” thì tấn bi kịch của anh ta sẽ còn tiếp diễn, thậm chí sẽ phát triển theo hình xoắn ốc, lặp lại và ngày một tồi tệ hơn, để rồi cái đỉnh của nó sẽ là cái chết của anh ta: sự tha hóa tận cùng của nhân cách.

Chủ nghĩa hiện thực phê phán không thể vượt qua những hạn chế nhận thức của chính thời đại mình, nó xem con người là nạn nhân của hoàn cảnh, chính vì vậy con người luôn bế tắc, bi kịch. Nhưng như vậy không có nghĩa Nam Cao không phải là nhà nhân đạo chủ nghĩa.

Cái nhân đạo của nhà văn thể hiện ở chỗ, nhà văn đã khám phá ra được những ước mơ tốt đẹp của văn sĩ Hộ, đó là ước vọng sáng tạo nghệ thuật chân chính của một người nghệ sĩ đam mê, ước muốn có một tác phẩm “vượt qua mọi bờ cõi và giới hạn” để trở thành tác phẩm chung cho loài người.

Cái nhân đạo của Nam Cao còn ở bức thông điệp dội vào cuộc sống: Cuộc sống cần phải thay đổi, để mỗi con người có hoài bão, có ước mơ được sống đúng với hoài bão và ước mơ của mình, để được sống và cống hiến, sống trở thành con người có ích cho xã hội, chứ không phải là những con người đau đớn, những kiếp sống mòn, ngày ngày nhìn ước mơ của mình đổ vỡ, và bản thân mình thì dẫn tha hóa, trở thành kẻ tồi tệ, giày vò hành hạ những người yêu thương của mình.

Như vậy, dù nhà văn có đứng ở điểm nhìn nào, dù anh ta chịu sự chi phối của thi pháp nào, dù anh ta có thể mang đến tương lai tươi sáng cho nhân vật hay không, chỉ cần anh ta còn hiểu được những ước vọng hướng về tương lai của con người, chỉ cần bản thân anh ta cũng có cái nhìn hướng về tương lai và đấu tranh cho tương lai tốt đẹp, tươi sáng của con người, thì anh ta chính là nhà nhân đạo chủ nghĩa.

Duy Trần, blog chuyên văn

Biểu Tượng Hoa Sen Trong Đạo Phật Có Ý Nghĩa Gì ? / 2023

Tòa sen mang ý nghĩa gì mà Phật tử lại làm đài cho đức Phật ngồi? Hay các chùa, tháp cho đến mộ của Phật tử cũng để hình ảnh hoa sen?

Để giúp độc giả và Phật tử hiểu về điều này, chúng tôi xin đăng tải lý giải về biểu tượng hoa sen trong đạo Phật của Hòa thượng Thích Thanh Từ đã giảng vào ngày Tết Nguyên Đán xuân Tân Mùi (1991)

“Trong vũng bùn ngũ dục, đức Phật thoát ra và trở thành một vị giác ngộ giải thoát. Đức Phật không phải từ phương trời nào xuống, mà chính là một con người hưởng đầy đủ dục lạc ở thế gian, rồi tự điều phục, thoát khỏi ngũ dục trở thành đấng giác ngộ.” Hòa thượng Thích Thanh Từ chia sẻ

Nói đến hoa sen, trước nhất trong chùa, chúng ta thấy tượng đức Phật ngự trên toà sen. Hẳn quí vị cũng nhớ thuở xưa khi thành Phật Ngài ngồi ở đâu? Ngài ngồi dưới cội Bồ-đề, trên toà cỏ. Hiện nay chúng ta lại để đức Phật ngồi trên tòa sen, như vậy là không đúng sự thật rồi.

Vậy tòa sen mang ý nghĩa gì mà tất cả Phật tử chúng ta lại quí trọng để làm đài cho đức Phật ngồi? Hay các chùa, tháp cho đến mộ của Phật tử cũng để hình ảnh hoa sen? Cả đến gia đình Phật tử cũng dùng lá cờ có hình hoa sen…

Đó là những điều người Phật tử cần phải hiểu rõ để khi có người hỏi chúng ta biết cách giải thích.

Hương thơm tỏa ra từ trong bùn nhơ

Theo tinh thần Phật giáo Nguyên thủy: Thường hoa sen xuất phát từ trong bùn nhơ, luôn luôn sen mọc trong ao, trong hồ. Điều đó ca dao Việt Nam đã có nhắc đến và quí vị cũng đã nhớ, đã thuộc. Như vậy giá trị của hoa sen là từ nơi bùn nhơ sen trỗi dậy, vươn lên khỏi bùn, ra khỏi nước rồi trổ hoa.

Lúc đầu mầm nó chui trong bùn nhưng khi gần trổ hoa thì nó vượt khỏi bùn, ngâm trong nước và lên khỏi mặt nước mới trổ hoa. Khi ở trong bùn thì hôi, nhưng khi nó nở hoa thì thơm ngát.

Vậy giá trị của hoa sen là từ chỗ nhơ nhớp hôi hám mà trổ hoa có mùi hương tinh khiết, đó là điểm kỳ đặc của hoa sen. Tỉ dụ như hoa hồng, hoa cúc, hoa mai chúng ta trồng trên khô, trổ hoa thơm thì cũng thường, vì chúng không có cái gì hôi hám.

Còn sen ở trong bùn lại trổ được hoa thơm, điều đó thật hiếm có. Thế nên đạo Phật dùng ý nghĩa này của hoa sen để tượng trưng cho người tu hành.

Theo sử, đức Phật ngày xưa là thái tử con vua Tịnh Phạn, Ngài sống trong cảnh vương giả đầy đủ ngũ dục, tức là sắc, thanh, hương, vị, xúc dư thừa. Ngài sống trong ngũ dục, chìm trong ngũ dục, nhưng chính từ trong ngũ dục sau này Ngài thức tỉnh, Ngài thoát ra khỏi ngũ dục và đi tu.

Khi đi tu Ngài sống khổ hạnh đến ngày viên mãn đạo quả, thành một đức Phật sáng suốt giác ngộ, cũng như hoa sen từ trong bùn vươn ra khỏi bùn, lên khỏi mặt nước rồi trổ hoa.

Thế nên đức Phật dạy: Trước tâm ta buông lung, Chạy theo ái dục lạc, Nay ta chánh chế ngự, Như câu móc điều voi. (Kinh Pháp Cú 326) Đức Phật kể lại: Thuở trước lúc ở trong cung Thái tử, tâm Ngài buông lung chạy theo ái dục, thụ hưởng dục lạc, nhưng ngày nay tức là khi đi tu, Ngài chế ngự được nó giống như người nài (người chăn voi) dùng câu móc điều phục voi.

Vậy giá trị của hoa sen là từ chỗ nhơ nhớp hôi hám mà trổ hoa có mùi hương tinh khiết, chính vì thế hoa sen thường được dùng làm biểu tượng của nhà Phật

Như vậy quí vị thấy từ trong vũng bùn ngũ dục, Ngài thoát ra và trở thành một vị giác ngộ giải thoát. Đức Phật không phải từ phương trời nào xuống, mà chính là một con người hưởng đầy đủ dục lạc ở thế gian, rồi tự điều phục, thoát khỏi ngũ dục trở thành đấng giác ngộ.

Khi Ngài ở trong cung vua thọ hưởng dục lạc, ví dụ như hoa sen còn ở trong bùn; khi Ngài vượt thành xuất gia không còn ở trong thế gian của dục lạc nữa, ví dụ như hoa sen vượt ra khỏi bùn nhưng còn ở trong nước; khi Ngài cố gắng tu hành cho đến lúc được viên mãn giác ngộ, giống như hoa sen vượt khỏi nước, nở hoa.

Như vậy hoa sen từ lúc mới mọc đến khi trổ hoa trải qua nhiều giai đoạn: Giai đoạn một là ở trong bùn, giai đoạn hai là ra khỏi bùn ở trong nước, giai đoạn ba là ra khỏi nước, giai đoạn bốn là nở hoa thơm ngát.

Cũng như vậy cuộc đời của đức Phật có nhiều giai đoạn: giai đoạn một là đắm mê dục lạc ở thế gian, giai đoạn hai là vượt thành xuất gia, giai đoạn ba khi tu Ngài cố gắng tinh tấn tu cho đến được giới thanh tịnh, điều phục được tâm, giai đoạn bốn là giác ngộ viên mãn.

Thế nên sau này chư Tổ dùng hoa sen để tượng trưng cho công hạnh tu hành của đức Phật, hình tượng đức Phật ngự trên đài sen là ý nghĩa như vậy.

Sau khi giác ngộ rồi, đức Phật cũng dùng hoa sen để dạy đệ tử và các đệ tử Phật cũng học theo gương của Ngài. Như giữa đống rác nhớp Quăng bỏ bên cạnh đầm, Chỗ ấy hoa sen nở Thơm sạch đẹp lòng người. Cũng vậy giữa quần sanh, Uế nhiễm mù phàm tục, Đệ tử bậc Chánh giác, Sáng ngời bằng trí tuệ. (Kinh Pháp Cú 58-59)

Qua bài kệ này chúng ta thấy đức Phật dạy đệ tử của Ngài phải giống như hoa sen, giống cách nào? Như khi vào thành phố chúng ta thấy mấy xe rác hôi hám nhơ nhớp, người ta đem đổ bồi các chỗ trũng, các đầm. Chính nơi đó sen mọc lên, khi sen nở, hoa có mùi rác hay mùi thơm thanh khiết? – Sen nở có mùi thơm thanh khiết. Đó là đức Phật dùng hình ảnh hoa sen để ví dụ.

Ngài dạy tiếp: “Cũng vậy giữa quần sanh uế nhiễm, mù, phàm tục”, tức là ở giữa mọi người chung quanh chúng ta, họ là những kẻ uế nhiễm, mù tối, phàm tục, đệ tử của bậc Chánh giác phải như thế nào? Đệ tử của Phật phải cố gắng “sáng ngời bằng trí tuệ”, tức là ở chỗ mù tối, uế nhiễm chúng ta phải luôn luôn nuôi dưỡng trí tuệ mình được sáng ngời để xứng đáng là đệ tử bậc Chánh giác.

Như thế quí vị thấy đức Phật dùng hoa sen để nhắc nhở đệ tử Ngài phải sống đúng như tinh thần của hoa sen, từ chỗ nhiễm nhơ phàm tục phải dùng trí tuệ sáng ngời đi đến giác ngộ.

Tiếp đến chúng tôi nói biểu tượng hoa sen theo tinh thần Phật giáo Đại thừa hay là Phật giáo phát triển, nó có hơi khác một chút. Hẳn đa số Phật tử ở đây đều có tụng kinh Pháp Hoa, Pháp Hoa là gì? Pháp là Diệu Pháp, Hoa là Liên Hoa, nói tắt là Pháp Hoa, nói đủ là Diệu Pháp Liên Hoa Kinh.

Liên Hoa là hoa sen, Diệu Pháp ví dụ như hoa sen nên gọi là Diệu Pháp Liên Hoa Kinh, như vậy kinh Pháp Hoa là bộ kinh nói lên ý nghĩa Diệu Pháp giống như hoa sen. Diệu Pháp là gì? Tức là Tri kiến Phật. Kinh Pháp Hoa nói: “chư Phật ra đời vì khai thị chúng sanh ngộ nhập Phật tri kiến”, nghĩa là chỉ dạy cho chúng ta ngộ được Tri kiến Phật, tức là cái thấy biết Phật của mình.

Vậy cái thấy biết Phật của mình ở đâu? – Ở ngay trong thân vô thường nhơ nhớp này. Tri kiến Phật là cái thanh tịnh, sáng suốt, là Diệu Pháp, là Pháp sẵn có nơi con người chúng ta. Thân nhơ nhớp ô uế này dụ như đống bùn. Đức Phật dạy thân chúng ta là nhơ nhớp là bất tịnh nhưng trong cái nhơ nhớp bất tịnh có cái thanh tịnh sáng suốt, vì vậy mà dụ Tri kiến Phật như hoa sen.

Hoa sen ở trong lò lửa là để nói ngay thân vô thường sanh diệt của chúng ta vẫn có cái thể tánh hay là cái Diệu tánh lúc nào cũng tươi nhuần, lúc nào cũng đẹp đẽ không bị khô héo, hư hao trong khi tất cả đều bị ngọn lửa vô thường thiêu đốt.

Chúng ta khéo ứng dụng tu theo lời Phật dạy trong kinh Pháp Hoa thì sẽ được giác ngộ, thấy được Tri kiến Phật. Đến các Thiền sư nói về hoa sen như thế nào? Như một Thiền sư đời Lý, ngài Đạo Huệ có bài kệ: Sắc thân dữ Diệu thể, Bất hiệp bất phân ly. Nhược nhân yếu chân biệt, Lô trung hoa nhất chi.

Tôi dịch: Sắc thân cùng Diệu thể, Chẳng hợp chẳng chia ly. Nếu người cần phân biệt, Trong lò một cành hoa. Cành hoa tức là cành hoa sen. Các Thiền sư không nói hoa sen ở trong bùn nữa mà nói hoa sen ở trong lò lửa. Hoa sen trong bùn thì dễ hiểu, còn hoa sen trong lò lửa là điều quá sức tưởng tượng của chúng ta.

Tôi sẽ giải thích ý nghĩa này. Lò lửa là chỉ thân vô thường, trong kinh Pháp Hoa cũng có dụ là “Tam giới vô an du như hoả trạch”, nghĩa là ba cõi không an giống như trong nhà lửa. Thân vô thường của chúng ta bị thiêu đốt, nó khô, nó chết từng phút từng giây, nhưng trong đó lại có một cái chưa bao giờ bị thiêu đốt, luôn nguyên vẹn trong sáng tươi tốt, nói theo kinh Pháp Hoa đó là Tri kiến Phật, nói theo bài kệ này đó là Diệu thể.

Lò lửa dụ cho sắc thân, cành hoa dụ cho Diệu thể. Cành hoa là biểu trưng cho trí tuệ sẵn có của chúng ta, nhà Phật gọi là Phật tánh hay Chân tâm. Trí tuệ đó sẵn trong thân vô thường này giống như hoa sen trong lò lửa. Thân chúng ta bị lửa vô thường thiêu đốt bại hoại nhưng hoa sen của chúng ta, tức tánh giác của chúng ta, không bao giờ khô héo.

Thế nên đã bao lần thân này hoại đi qua thân khác mà tánh giác không thêm, không bớt, không thay đổi dụ như hoa sen trong lò lửa vẫn tươi tốt. Đến vị thứ hai, cũng đời Lý, Thiền sư Ngộ Ấn nói khác hơn một chút: Diệu tánh hư vô bất khả phan, Hư vô tâm ngộ đắc hà nan. Ngọc phần sơn thượng sắc thường nhuận, Liên phát lô trung thấp vị càn.

Tôi tạm dịch: Diệu tánh rỗng không chẳng thể vin, Rỗng không tâm ngộ việc dễ tin. Tươi nhuần sắc ngọc trong núi cháy, Lò lửa hoa sen nở thật xinh. Trong bài này Thiền sư cũng nói hoa sen ở trong lò lửa . “Diệu tánh rỗng không chẳng thể vin” nghĩa là mỗi người chúng ta có cái tánh nhiệm mầu tức là tánh giác, nó rỗng rang nên chúng ta không thể nào vin theo được, không thể nào nắm bắt được.

“Rỗng không tâm ngộ việc dễ tin” là nếu khi tâm chúng ta rỗng rang không còn dính mắc nữa thì lúc đó chúng ta mới tin được nó. “Tươi nhuần sắc ngọc trong núi cháy” nghĩa là ở trong ngọn núi cháy rực, hòn ngọc vẫn tươi nhuần không bị khô, không bị cháy cũng không bị nứt bể…

“Lò lửa hoa sen nở thật xinh” là ở trong lò lửa hoa sen vẫn nở thật đẹp. Như vậy hoa sen ở trong lò lửa là để nói ngay thân vô thường sanh diệt của chúng ta vẫn có cái thể tánh hay là cái Diệu tánh lúc nào cũng tươi nhuần, lúc nào cũng đẹp đẽ không bị khô héo, hư hao trong khi tất cả đều bị ngọn lửa vô thường thiêu đốt.

Như thế quí vị thấy ngay trong thân vô thường có cái không phải vô thường, cái đó gọi là Diệu tánh (theo ngài Ngộ Ấn) hay là Diệu thể (theo ngài Đạo Huệ), đều chỉ cho cái chân thật đó. Lại có một vị Tăng hỏi Hòa thượng Tộ ở Trí Môn: Hoa sen khi chưa ra khỏi nước thì thế nào? Ngài đáp: Hoa sen. – Sau khi ra khỏi nước thì thế nào? – Lá sen. Như thế lời đáp có dễ hiểu không? Lời đáp như là không có đáp, không thể hiểu gì cả.

Nhưng sau này có một vị Quốc sư Nhật Bản, ngài Viên Thông Đại Ứng làm bài tụng để chúng ta thấy rõ nghĩa đó. Ngài tụng: Liên hoa hà diệp ly nê thủy, Xuất vị xuất thời tuyệt điểm ai. Vô hạn thanh hương thâu bất đắc, Hoà phong đới vũ mãn trì khai. Tôi tạm dịch: Hoa sen cành lá lìa bùn nước, Ra với chưa ra bặt điểm trần. Vô hạn hương thơm thu chẳng hết, Theo mưa quyện gió nở đầy ao.

Nói là ra khỏi nước hay chưa ra khỏi nước, nói là hoa sen, cành sen hay lá sen, cách nói đó là để chúng ta không bị tình giải trói buộc. Vị Tăng hỏi “hoa sen khi chưa ra khỏi nước như thế nào” là ý ngầm hỏi khi Phật tánh của chúng ta còn lẫn trong tâm phàm tục này hay là trong cái vọng tâm phiền não này thì thế nào? Ngài liền trả lời: Hoa sen.

Lại hỏi: Sau khi ra khỏi nước thì thế nào? Lẽ ra sau khi ra khỏi nước là sắp nở, cũng như là tâm giác của chúng ta khi thoát khỏi phiền não là sẽ sáng, nhưng Ngài lại đáp là “lá sen”. Như vậy đáp là hoa sen, là lá sen, lối đáp đó đều không cho chúng ta hiểu mà để chúng ta thấy.

Nếu khi nào chúng ta không khởi niệm suy nghĩ phân biệt – danh từ chuyên môn nhà Thiền gọi là không khởi tình giải – lúc đó “ra với chưa ra bặt điểm trần”, nghĩa là không còn một mảy niệm nào làm cho nhơ nhớp. Nếu không còn một mảy niệm nhơ nhớp thì “vô hạn hương thơm thu chẳng hết”, khi ấy hương thơm tràn khắp, dù chúng ta muốn thu, thu cũng không hết. “Theo mưa quyện gió nở đầy ao” là theo mưa theo gió, đầy ao nở toàn là hoa sen.

Tóm lại ý bài tụng này muốn nói rằng khi người ta đến chỗ tâm niệm không còn đuổi theo ngoại cảnh hay là không còn khởi những tình giải lăng xăng nữa, khi đó tâm thanh tịnh không còn dính một mảy bụi nhơ nhớp, khi ấy nơi nơi hoa sen đều nở rực, nơi nơi là mùi hương thơm ngát của hoa sen, không còn có những hôi hám bẩn thỉu nữa. Đó là ý nghĩa hoa sen.

Nguyễn Đình Triển @ 15:36 05/12/2012 Số lượt xem: 923

Ý Nghĩa Hình Xăm La Bàn Là Gì? Bst 79 + Hình Xăm La Bàn Đẹp, Ấn Tượng / 2023

I. Khám phá ý nghĩa hình xăm la bàn

Hình xăm la bàn là một trong số các phong cách hình xăm có nguồn gốc tương đối thú vị và đặc biệt. Cụ thể, hoa văn này được đặt lên cơ thể bởi những chàng thủy thủ Tây Ban Nha từ những thế kỷ trước.

Từ thuở xa xưa, la bàn thường xuyên có mặt trong cuộc sống với công dụng chính là định vị phương hướng, vị trí. Còn ngày nay, la bàn lại thường gắn với con người ưa thích sự di chuyển, sự khám phá những điều mới mẻ, hướng đi đúng đắn,…

Về cơ bản, những nét ý nghĩa phổ biến nhất của việc xăm hình là bàn gồm có :

* Xác định phương hướng trong cuộc sống

Vai trò tương tự la bàn, việc đặt hình xăm này lên cơ thể cũng nhằm mục đích định vị phương hướng đúng đắn, vạch lên lộ trình cần thiết trước những khó khăn phía trước.

Việc sở hữu hình xăm la bàn trên cơ thể là ý tưởng tuyệt vời để hỗ trợ bạn nhìn nhận đúng đắn lại hướng đi tiếp theo, những điều mình từng theo đuổi.

Về cơ bản la bàn gắn liền với 4 phương hướng khác nhau, tuy nhiên việc kết hợp theo cùng hoa văn mũi tên biểu trưng cho việc định hướng rõ ràng, xác định được đường đi cho bản thân.

Theo những quan điểm đậm tính tâm linh xa xưa, sở hữu hoa văn, họa tiết này đồng nghĩa với việc không mất phương hướng ngay cả trong điều kiện thời tiết ngặt nghèo, không mất đi nhân cách ngay cả khi gặp những khó khăn, biến cố trong cuộc sống.

👉👉👉ĐỌC THÊM : Hình xăm thổ dân thích hợp với nam hay nữ giới

Cũng mang tính chất định hướng, tuy nhiên phong cách xăm hình này lại thiên về sự lãng mạn nhiều hơn, và rất được ưa chuộng từ nữ giới.

Sự kết hợp của 2 hoa văn này thường biểu trưng cho quãng nghỉ ngơi sau hành trình dài trải nghiệm khắp bốn phương trời.

Theo đánh giá từ các tín đồ xăm hình, phong cách la bàn thích hợp với nhiều vị trí khác nhau trên cơ thể, trong số đó đáng chú ý nhất gồm có :

Tiếp tục là một khu vực xăm hình thích hợp cả nam lẫn nữ giới. Bạn hoàn toàn có thể linh hoạt chọn lựa kích cỡ lớn nhỏ tùy thuộc theo sở thích cá nhân.

Ý Nghĩa Hình Xăm Số La Mã / 2023

Hình xăm Số La Mã có ý nghĩa gì? Tuyển chọn bộ sưu tập những hình xăm Số La Mã đẹp nhất, ý nghĩa nhất, độc đáo nhất năm 2021. Bạn tìm nơi xăm hình Số La Mã tại Hồ Chí Minh? Hãy đến ngay TrueArt Ink.

Mục Lục Hình Xăm Số La Mã

Hình xăm số La Mã: nét văn hóa đặc biệt của Trung Đông đã xuất hiện từ rất lâu đời, và cho đến thời điểm hiện tại đang là một trong những trào lưu hình xăm hot nhất trên thế giới.

Hình xăm số La Mã cổ điển phổ biến cũng như những ký tự số La Mã xưa là hệ thống chữ số cổ đại đã được các nhà nghiên cứu chuyển hóa thành hệ thống chuỗi ký tự số (những con số được sử dụng như quy tắc chung ngày nay) từ rất lâu trước thế kỷ XVII và được người xưa sử dụng để đo lường thời gian, xác định chính xác số lượng của cải mà các vị vua đang sở hữu. 

Điều mang ý nghĩa quan trọng nhất của những chữ số La Mã là đánh dấu những ngày quan trọng trong lịch sử. Giúp xác định chuẩn xác thời điểm những sự kiện trọng đại diễn ra trên  toàn thế giới.

Ngoài ra, người ta thường hay bắt gặp những ký tự số đặc biệt này được khắc trên những vật dụng bằng đất sét cổ, trên những vách đá cũng như hang động, trên những xác ướp hóa thạch có niên đại vài nghìn cho đến vài chục nghìn năm trước. 

Và cho đến tận ngày nay, kỷ nguyên của khoa học và kỹ thuật số thì xăm hình số La Mã cá tính là một trong những cách làm đẹp bản thân rất văn minh và đầy thẩm mỹ nghệ thuật. 

Những Hình xăm số La Mã hiện đại phổ biến ở thời điểm hiện tại có thể xem như là một cách để mã hóa hay trừu tượng hóa một ngày tháng đặc biệt, một con số ý nghĩa yêu thích của người nào đó.

Hình xăm số La Mã bí ẩn rất phổ biến, bạn có thể thấy rất nhiều người nổi tiếng cũng như những siêu sao thế giới xăm chúng lên cơ thể, ở những vị trí dễ nhận thấy nhất và họ đặc biệt trân trọng nó. 

Hình xăm số La Mã ý nghĩa thường tạo thành một chuỗi dài các biểu tượng số trên cơ thể và thông thường chúng tượng trưng cho ngày sinh nhật, kỷ niệm ngày cưới, thành lập doanh nghiệp, một con số may mắn hoặc mốc thời gian cụ thể của bất kỳ sự kiện trọng đại nào mà bạn muốn lưu giữ lại.

Bên cạnh đó, nó phù hợp cho mọi đối tượng, là hình xăm “quốc dân” không phân biệt nam nữ, tầng lớp xã hội hay sự khác biệt văn hóa cũng như tôn giáo nào. Chỉ cần bạn thích thì cứ xăm thôi!!! 

Bạn đã hiểu tại sao hình xăm số La Mã nghệ thuật đã và đang rất được ưu chuộng trên toàn thế giới rồi đấy!

Bạn có thể xăm hình số La Mã cá tính cho riêng mình ở bất cứ vị trí nào trên cơ thể nếu muốn, tùy vào sở thích cá nhân của bạn. Nhiều người chọn xăm số La Mã ở vị trí “mặt tiền”, “lộ thiên” đơn giản vì họ muốn ai cũng có thể nhìn thấy chúng, họ muốn mọi người hiểu con số bí ẩn đó là 1 điều rất quan trọng trong cuộc đời họ. 

Một số vị trí xăm hình số La Mã phổ biến có thể kể đến như là: cổ tay, ngón tay, vai, sau gáy, lưng, ngực, bụng…và nếu muốn mọi người dễ nhìn thấy hình xăm số La Mã huyền bí của bạn thì tốt nhất nên xăm ở những nơi cao trên cơ thể, ngang tầm mắt người đối diện là vị trí vàng, hoàn hảo nhất cho hình xăm của bạn.

Việc tìm một tiệm xăm hình Số La Mã uy tín tại TP. Hồ Chí Minh cần có đủ các yếu tố như: Artist chuyên nghiệp, thiết bị xăm hiện đại, mực xăm chuẩn & bền, hình vẽ thiết kế sao cho phù hợp với mỗi người… Phải hội tụ các yếu tố cơ bản trên mới có thể ra được một hình xăm Số La Mã ưng ý nhất.

Và khi bạn đến TrueArt Ink của Artist Minh Đức Art để xăm hình Số La Mã thì các yếu tố đấy không phải là vấn đề.

Những Lý Do Bạn Chọn TrueArt Ink Để Xăm Hình Số La Mã

Artist có tâm và có tầm: TrueArtink Ink với những người thợ xăm với kinh nghiệm trên 10 năm kinh nghiệm với chuyên môn riêng: Minh Đức Art (23 năm kinh nghiệm với thể loại Realistic Style, Japanese), Minh Phạm Artist (Piercing), Minh Thành Artist (Neo Traditional, New School, Japanese), Phạm Duy Thành Artist (Realistic).

Hình vẽ thiết kế: Tất cả mọi hình xăm Số La Mã được chúng tôi vẽ, thiết kế đặc biệt độc đáo phù hợp với mỗi người. Với sự trơ giúp thiết bị scan hình xăm sẽ không tốn nhiều thời gian.

Dụng cụ thiết bị: Những thiết bị xăm tại TrueArt Ink đều sử dụng công nghệ tiên tiến & hiện đại nhất trên Thế Giới. TrueArt Ink cũng là đơn vị đầu tiên tại Việt Nam tự hào tham gia sản xuất thiết bị kim xăm, mực xăm, dụng cụ scan hình xăm… với thương hiệu Artflytattoo .Ngoài ra Artfly Tattoo còn cung cấp sản xuất cho các thương hiệu lớn tại Mỹ, Đức, Pháp…

Mực xăm: Bên cạnh cung cấp thiết bị xăm hiện đại, TrueArt Ink còn sở hữu những loại mực xăm đặc thù đủ màu sắc phù hợp với hình xăm Số La Mã. Đem lại độ bền trên 50 năm, không nhoè, không phai màu. Chúng tôi bảo hành trọn đời màu mực xăm Số La Mã để khẳng định thương hiệu.

Chính Sách Cam Kết Khi Xăm Hình Số La Mã Tại TrueArt Ink

Chính sách bảo hành: Hình xăm Số La Mã được Artist tạo ra phải đạt chuẩn, hình vẽ rõ nét, màu sắc hài hoà, thời gian bền lâu. Cùng với đó là cam kết bảo hành trọn đời hình xăm Số La Mã.

Chức năng y tế: Chúng tôi đảm bảo hình xăm Số La Mã trên cơ thể không bị tổn thương quá lớn, tránh bị viêm sưng.TrueArt Ink sẽ hỗ trợ dụng cụ y tế, chăm sóc da đảm bảo độ an toàn cao nhất.

Chi phí xăm: Giá cả xăm cạnh tranh nhất thị trường, mọi chi phí bạn bỏ ra đều xứng đáng khi xăm hình Số La Mã tại TrueArt Ink.

Tham khảo bảng giá xăm hình TrueArt Ink: Tại Đây

Với kinh nghiệm 23 năm của Artist Minh Đức, cam kết khi bạn xăm hình Số La Mã tại TrueArt Ink sẽ hoàn toàn hài lòng với dịch vụ của chúng tôi.

Từ Khóa Tìm Kiếm Hình Xăm Số La Mã

Hình xăm số la mã ở cổ tay

Hình xăm số La Mã ở cổ

Font hình xăm số la mã đẹp

Hình xăm chữ số La Mã đẹp

Hình xăm số La Mã ở ngón tay

Hình xăm chữ số La Mã 3D

Hình xăm mã vạch

Hình xăm số La Mã ở bắp tay