Top 13 # Xem Nhiều Nhất Ý Nghĩa Lá Cờ Việt Nam / 2023 Mới Nhất 12/2022 # Top Like | Shareheartbeat.com

Ý Nghĩa Lá Cờ Việt Nam, Ý Nghĩa Ngôi Sao Năm Cánh Trên Quốc Kỳ Việt Nam / 2023

Ý nghĩa lá cờ Việt Nam là gì?

Theo Wikipedia, Quốc kỳ Việt Nam (còn gọi là Cờ Tổ quốc) hiện nay được công nhận chính thức từ năm 1976, là lá cờ đại diện cho nước Việt Nam sau ngày thống nhất hai miền Nam – Bắc. Quốc kỳ Việt Nam có hình chữ nhật, chiều rộng bằng 2/3 chiều dài, nền đỏ, ở giữa có ngôi sao vàng 5 cánh.

Lịch sử và ý nghĩa của lá cờ đỏ sao vàng gắn liền với những năm tháng đấu tranh kiên cường, bất khuất của nhân dân Việt Nam đánh đuổi quân xâm lược, giành chính quyền, thống nhất đất nước để có được cuộc sống hòa bình, ấm no, tự do, hạnh phúc ngày nay.

Ngôi sao vàng 5 cánh trên Quốc kỳ Việt Nam tượng trưng cho 5 giai cấp, tầng lớp: sĩ, nông, công, thương, binh trong xã hội. Các giai tầng này cũng nhau đoàn kết trong lao động và chiến đấu, tạo nên sức mạnh tổng hợp to lớn của khối đại đoàn kết dân tộc.

Chính sức mạnh của sự đồng sức, đồng lòng của mọi giai tầng trong xã hội là một trong những yếu tố để làm nên những chiến công vang dội, để Việt Nam luôn hiên ngang chiến thắng trước mọi thế lực bạo tàn, bảo vệ vững chắc nền độc lập, tự do của dân tộc.

Lịch sử ra đời của lá cờ đỏ sao vàng gắn liền với những năm tháng đấu tranh kiên cường, bất khuất của nhân dân Việt Nam đánh đuổi quân xâm lược, giành chính quyền, thống nhất đất nước trước âm mưu chia rẽ của kẻ thù để nhân dân Việt nam hôm nay có được cuộc sống hòa bình, tự do, ấm no, hạnh phúc.

Lá cờ đỏ sao vàng xuất hiện lần đầu tiên trong cuộc Khởi nghĩa Nam Kỳ chống thực dân Pháp và phát xít Nhật năm 1940. Đồng chí Nguyễn Hữu Tiến, còn được gọi với cái tên khác là thầy giáo Hoài ( sinh ngày 5/3/1901 tại Duy Tiên, Hà Nam) là tác giả của lá cờ đỏ sao vàng. Ông đã bị địch bắt và hi sinh ngày 28/8/1941.

Trước đó, từ năm 1930, khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời và lãnh đạo cách mạng, trong các cuộc đấu tranh đã xuất hiện hình ảnh lá cờ đỏ sao vàng nhưng được lồng trên hình búa liềm.

Năm 1940, Xứ ủy Đảng Cộng sản Đông Dương ở Nam Kỳ họp và quyết định khởi nghĩa. Theo di huấn của đồng chí Trần Phú, lá cờ đỏ sao vàng được chọn làm lá cờ khởi nghĩa.

Tháng 5/1941, tại Hội nghị Trung ương VIII của Đảng Cộng sản Đông Dương do Nguyễn Ái Quốc chủ trì họp tại Cao Bằng, Mặt trận Việt Minh được thành lập. Đoạn mở đầu của Chương trình Việt Minh ghi rõ: ” Sau khi đánh đuổi đế quốc Pháp – Nhật sẽ lập nên Chính phủ nhân dân của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, lấy cờ đỏ sao vàng năm cánh làm Quốc kì”. Đây là văn bản đầu tiên, chính thức quy định Quốc kì của Việt Nam là lá cờ đỏ sao vàng.

Ngày 16/8 /1945, Đại hội Quốc dân họp ở Tân Trào, Tuyên Quang đã quyết định Quốc kì Việt Nam là nền đỏ, ở giữa có một ngôi sao vàng 5 cánh

Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, Quốc hội khóa đầu tiên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa năm 1946 đã ghi vào Hiến pháp: ” Quốc kì Việt Nam Dân chủ Cộng hòa hình chữ nhật, chiều rộng bằng hai phần ba chiều dài, nền đỏ, ở giữa có ngôi sao vàng năm cánh”.

Sau Cách mạng tháng Tám thành công chưa được bao lâu thì nhân dân ta lại phải tiến hành cuộc kháng chiến chống Pháp và sau đó là kháng chiến chống Mĩ xâm lược. Trong cuộc kháng chiến chống Mĩ, đất nước ta tạm thời bị chia cắt thành 2 miền Bắc – Nam với những nhiệm vụ cách mạng khác nhau.

Sau ngày 30/4/1975, miền Nam được hoàn toàn giải phóng, Bắc – Nam thống nhất một dải, Quốc hội nước Việt Nam thống nhất đã công nhận Quốc kì nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là lá cờ đỏ sao vàng.

Hiện nay, tại Khoản 1 Điều 13, Hiến pháp 2013 nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ghi rõ: ” Quốc kì nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hình chữ nhật, chiều rộng bằng hai phần ba chiều dài, nền đỏ, ở giữa có ngôi sao vàng năm cánh”.

* Lá cờ tung bay trong nắng gió

Hình ảnh lá cờ đỏ sao vàng tung bay trong nắng gió là một biểu tượng đẹp đẽ của một đất nước yêu chuộng hòa bình, tự do, nỗ lực vươn lên để phát triển và hội nhập.

Lá cờ ấy phất lên, hiên ngang, đẹp đẽ hơn bất cứ điều gì khác. Nó là kết tinh của lòng yêu nước, sức mạnh đoàn kết của cả dân tộc trong những năm tháng kháng chiến gian khổ mà vẻ vang, hào hùng.

Hình ảnh người chiến sĩ nơi đảo xa chắc tay súng dưới cột cờ Tổ quốc tung bay đẹp hào hùng. Nơi đầu sóng ngọn gió, lá cờ ấy vẫn một sắc đỏ, sao vàng phấp phới bay, hướng về đất liền – trái tim yêu của Tổ quốc!

Hình ảnh cờ đỏ sao vàng là một biểu tượng không thể thiếu để cổ vũ tinh thần cho các “anh hùng sân cỏ”. Cả một vùng trời ngập tràn cờ đỏ sao vàng thể hiện một tinh thần dân tộc thiêng liêng, mãnh liệt hơn bất cứ thứ sức mạnh nào. Các cầu thủ Việt Nam ra sân luôn thi đấu với một tinh thần quyết tâm cao nhất, vì màu cờ sắc áo của dân tộc

Lá Cờ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa Có Ý Nghĩa Gì Đặc Biệt? / 2023

1. Lá cờ của Việt Nam dân chủ cộng hòa

Lá cờ của Việt Nam dân chủ cộng hòa hay còn gọi là Quốc kỳ Việt Nam chính thức từ kì họp Quốc hội đầu tiên năm 1946. Cho đến hiện tại vẫn chưa rõ nguồn gốc của lá cờ Việt Nam, chỉ biết rằng lá cờ đầu tiên xuất hiện trong cuộc Nam Kỳ khởi nghĩa ở Nam Bộ vào năm 1940.

Tháng 5/1941 Mặt trận Việt Minh thành lập có ghi: ” Sau khi đánh đuổi đế quốc Pháp, Nhật, sẽ lập nên Chính phủ nhân dân của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, lấy cờ đỏ ngôi sao vàng 5 cánh làm Quốc kỳ “. Đó là văn bản đầu tiên nói về Quốc kỳ nước ta.

Lá cờ Việt Nam có hình chữ nhật, chiều rộng bằng hai phần ba chiều dài

Lá cờ Việt Nam có hình chữ nhật, chiều rộng bằng hai phần ba chiều dài. Giữa lá cờ có hình ảnh ngôi sao vàng 5 cánh, xung quanh nền đỏ. Ngày nay, mỗi khi có dịp đặc biệt của đất nước Việt Nam đều thấy sự xuất hiện của lá cờ bay phấp phới trên mọi nẻo đường, như một phần của cuộc sống người Việt Nam.

2. Ý nghĩa của lá cờ Việt Nam dân chủ cộng hòa

Lá cờ Việt Nam dân chủ cộng hòa mang rất nhiều ý nghĩa đặc biệt với người Việt. Phần nền đỏ của lá cờ tượng trưng cho dòng máu của biết bao con người với nhiệt huyết cách mạng, đó cũng là màu của chiến đấu và chiến thắng. Ngôi sao vàng năm cácnh tượng trưng cho sức mạnh của đại đoàn kết dân tộc, của các tầng lớp nhân dân trong đó có sĩ, công, nông, thương, binh đã cùng nhau chiến đấu, giành độc lập tự do. Màu vàng của ngôi sao tượng trưng cho màu da vàng, màu da của phần lớn người Việt Nam.

Lá cờ Việt Nam dân chủ cộng hòa mang rất nhiều ý nghĩa đặc biệt với người Việt

Không chỉ có ý nghĩa biểu hiện bên ngoài thiết kế lá cờ, lá cờ đỏ sao vàng còn là minh chứng cho quá trình đấu tranh giành độc lập dân tộc, dựng nước và giữ nước của cha ông ta từ bao thế hệ. Lá cờ khẳng định cho nền độc lập, cho sự thống nhất, hòa bình, cho cuộc sống ấm no, hạnh phúc của nhân dân Việt Nam ngày hôm nay.

3. Giai đoạn lịch sử của Việt Nam dân chủ cộng hòa

Lịch sử của Việt Nam đã có từ hàng vạn năm trước Công nguyên với nhiều di tích chứg minh để lại. Có thể chia lịch sử Việt Nam thành một số giai đoạn:

Giai đoạn hình thành: Trong giai đoạn này, các vua Hùng đã thay nhau trị vì nước Văn Lang. Đến thế kỷ thứ III TCN, An Dương Vương lập nên nước Âu Lạc với vết tích thành Cổ Loa tồn tại đến ngày nay.

Giai đoạn Bắc thuộc (từ năm 207 TCN đến Thế kỷ thứ 10 SCN): Giai đoạn này nước Âu Lạc bị xâm chiếm và đô hộ sau thời gian dài, nhiều cuộc khởi nghĩa của nhiều anh hùng đã nổi lên như khởi nghĩa Hai Bà Trưng, khởi nghĩa Bà Triệu, khởi nghĩa Ly Nam Đế…, nổi trội với trận thắng vang dội trên sông Bạch Đằng của Ngô Quyền chống quân Nam Hán năm 938, chấm dứt 1000 đô hộ.

Trận thắng vang dội trên sông Bạch Đằng của Ngô Quyền năm 938

Giai đoạn các triều đại phong kiến Việt Nam: Vào thế kỷ X, khi các triều đại bắt đầu vững chắc đã có đủ sức mạnh để bảo vệ độc lập tự chủ của đất nước. Nước Việt đã trải qua rất nhiều triều đại như triều Ngô (939 – 965) lập ra nước Vạn Xuân tại kinh đô Cổ Loa; triều Đinh (968 – 980) với tên nước là Đại Cồ Việt tại kinh đô Hoa Lư; triều Lê (980 – 1009); thời Lý (1009 – 1225) với tên nước là Đại Việt kinh đô tại Thăng Long; đời Trần (1226 – 1400); nhà Hồ (1400 – 1407) với tên nước là Đại Ngu có kinh đô tại Tây Đô – Thanh Hóa

Thời kỳ Bắc thuộc: Trải qua các thời đại như Lê sơ – Hậu Lê (1428 – 1527) đổi tên nước là Đại Việt kinh đô tại Đông Kinh; nhà Mạc (1527 – 1532) kinh đô tại Cao Bình – Cao Bằng ngày nay; Hậu Lê; Tây Sơn (1789 – 1802) kinh đô tại Quy Nhơn và Phú Xuân – Huế; triều Nguyễn (1802 – 1945) đổi tên nước là Việt nam kinh đô tại Huế

Kinh đô triều Nguyễn tại Huế

Thời kỳ Pháp thuộc (1858 – 1954) và thời kỳ kháng chiến chống Mỹ (1975). Ngày 2/7/1976 tên nước được chính thức đổi thành Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, lấy Hà Nội làm thủ đô, chính thức bước vào giai đoạn phát triển kinh tế.

Để có được nước Việt độc lập, tự chủ như ngày hôm nay có thể thấy toàn thể nhân dân đã trải qua một quãng thời gian rất dài và khó khăn. Chính vì thế những thế hệ tương lai phải luôn ghi nhớ để cảm thấy tự hào, yêu và trân trọng hơn những gì ông cha đã để lại. Lá cờ Việt Nam dân chủ cộng hòa chính là một trong những biểu tượng mà bất cứ người Việt nào cũng luôn phải nhớ đến và khắc ghi trong lòng.

Ý Nghĩa Lịch Sử Của Cờ Việt Nam Và Trung Quốc / 2023

Ý nghĩa lịch sử của cờ Việt Nam và Trung Quốc

1. Giới thiệu về cờ nước Việt Nam và cờ Trung Quốc

Cờ nước Việt Nam và cờ Trung Quốc có một số điểm tương đồng như đều sử dụng nền màu đỏ và phía trên có hình ảnh sao vàng năm cánh. Tuy nhiên mỗi quốc gia đều có một lá cờ khác biệt, không có quốc kỳ của nước nào trùng với nước nào.

Cờ Việt Nam hay còn gọi là cờ đỏ sao vàng được ra đời đầu tiên vào năm 1940 và chính thức trở thành quốc kỳ vào năm 1945. Cờ có thiết kế hình chữ nhật, chiều rộng bằng 2/3 chiều dài. Trên nền đỏ của cờ có hình ngôi sao vàng 5 cánh.

Cờ Việt Nam hay còn gọi là cờ đỏ sao vàng được ra đời đầu tiên vào năm 1940

Cờ Trung Quốc hay còn gọi là quốc kỳ Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa được ra đời năm 1949. Cờ sử dụng nền đỏ với một ngôi sao vàng 5 cánh lớn đăt ở góc trái, xung quanh là bốn ngôi sao vàng 5 cánh nhỏ.

Cờ Trung Quốc hay còn gọi là quốc kỳ Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa được ra đời năm 1949

2. Ý nghĩa lịch sử của cờ Việt Nam và Trung Quốc

2.1.  Ý nghĩa lịch sử của cờ Việt Nam

Thiết kế nền màu đỏ của lá cờ Việt Nam tượng trưng cho màu của chiến đấu và chiến thắng. Dân tộc Việt Nam trải qua bao đời luôn đấu tranh kiên cường, bất khuất để bảo vệ độc lập, tự do cho dân tộc. Màu đỏ còn là biểu tượng cho máu của các anh hùng đã hy sinh, ngã xuống. Ngôi sao vàng ở giữa là linh hồn của dân tộc, 5 cánh sao là 5 tầng lớp đồng bào sĩ, công, nông, thương, binh luôn đoàn kết.

c

Cờ Việt Nam là minh chứng cho một quốc gia có độc lập, chủ quyền, tự chủ, dân tộc Việt Nam đoàn kết, cùng nhau đồng cam cộng khổ. Lá cờ Việt Nam dù phải trải qua bao thế hệ nhưng vẫn trường tồn, là lời nhắn nhủ, nhắc nhở những thế hệ mai sau nhớ về công lao của cha ông đã ngã xuống, ra sức thi đua, học tập, tiếp nối truyền thống cha ông để lại.

Ngày nay  trong những sự kiện lớn của đất nước không thể thiếu đi được hình ảnh lá cờ đỏ tung bay phấp phới. Với người Việt Nam việc treo cờ cũng có nhiều quy định như: khi treo không để ngược ngôi sao; nếu treo chung cùng chân dung Bác Hồ thì ảnh phải thấp hơn, phía dưới ngôi sao; trong buổi mừng thọ quốc kì được treo phía bên trái sân khấu..

Ngày nay  trong những sự kiện lớn của đất nước không thể thiếu đi được hình ảnh lá cờ đỏ

2.2. Ý nghĩa lịch sử của cờ Trung Quốc

Cờ Trung Quốc cũng có màu đỏ biểu tượng cho cách mạng, cho máu của các chiến sĩ đã hy sinh vì độc lập dân tộc. 5 ngôi sao trên lá cờ tượng trưng cho sự đoàn kết của đất nước, bốn ngôi sao nhỏ bao quanh là các lực lượng cách mạng gồm giai cấp công nhân, nông dân, tiểu tư sản thành thị và tư sản dân tộc đứng dưới sự lãnh đạo của đảng cộng sản Trung Hoa – tượng trưng cho ngôi sao lớn nhất.

Quốc kỳ Trung Quốc thể hiện uy quyền và sự tôn nghiêm của đất nước. Đồng thời phần nào thể hiện truyền thống và ý tưởng của quốc gia qua màu sắc và hình dáng đặc trưng riêng. Màu đỏ là màu sắc truyền thống của chủ nghĩa cộng sản, tượng trưng cho cách mạng, màu vàng thể hiện chiến thắng, ám chỉ với ánh sáng.

Quốc kỳ Trung Quốc thể hiện uy quyền và sự tôn nghiêm của đất nước

   

Ý Nghĩa 5 Màu Trên Lá Cờ Phật Giáo / 2023

Năm màu sắc của lá cờ Phật giáo: Xanh dương, vàng, đỏ, trắng, cam là biểu trưng cho ánh sáng hào quang chư Phật; đồng thời ý nghĩa các màu sắc cũng tương ưng, nêu biểu gắn với Ngũ căn Ngũ lực.

> Người tu nên chọn pháp môn phù hợp với căn cơ của mình

Là những phương pháp tu học Phật quý báu có thể đưa người tu hành từ địa vị phàm phu đến các Thánh quả trong ba thừa.

Mỗi màu sắc có ý nghĩa, sự phân biệt khác nhau:

Màu trắng: tượng trưng Tín căn

Màu đỏ: tượng trưng cho Tinh tấn căn

Màu vàng: tượng trưng cho Niệm căn

Màu xanh dương: tượng trưng cho Định căn

Màu da cam: tượng trưng Huệ căn.

Năm màu sắc của lá cờ Phật giáo: Xanh dương, vàng, đỏ, trắng, cam là biểu trưng cho ánh sáng hào quang chư Phật; đồng thời ý nghĩa các màu sắc cũng tương ưng, nêu biểu gắn với Ngũ căn Ngũ lực.

Ngũ căn

Là năm căn. Căn đây tức là căn bản, là gốc rễ, là nguồn gốc để tất cả các thiện pháp xuất phát.

Luận Trí Độ, quyển thứ mười, giải rằng: “Năm căn này là căn bản để phát sinh tất cả thiện pháp, nên gọi là ngũ căn”. Năm căn ấy là: Tín căn, Tấn căn, Niệm căn, Định căn, Huệ căn.

Chúng là sự phục sức trang nghiêm, là phương tiện công hiệu giúp người tu học thẳng tiến trên bước đường tu đạo, chứng quả.

1. Tín căn:

Là lòng tin mạnh mẽ vững chắc. Lòng tin này không giống như lòng tin mù quáng, vô điều kiện, bất chấp lý trí của phần nhiều ngoại đạo. Lòng tin ở đây là con đẻ của lý trí, là kết quả của sự suy luận sáng suốt, của sự quan sát kỹ càng. Đức Phật không bao giờ bắt buộc Phật tử tin một điều gì mà không suy luận được, không giải thích được.Vì lòng tin của người Phật tử khởi từ trí xét đoán. Bởi thế nên nó vô cùng vững chắc, mãnh liệt. Chính nó là căn bản phát sinh các hạnh lành, Phật dạy: “Tin là mẹ vô lượng của công đức”. Nhưng Phật tử tin cái gì? Phật tử tin Tam Bảo:

Tin Phật: Phật tử biết rằng đức Phật là đấng hoàn toàn giác ngộ, giải thoát. Vì thế, Phật tử suốt đời tin tưởng theo Phật, để hướng tiến đến sự giác ngộ, giải thoát mà Phật đã thân chứng.

Tin pháp: Pháp là chân lý, là sự thật mà đức Phật đã khám phá ra và truyền lại cho chúng ta. Hay nói một cách khác, pháp là giáo lý đúng như sự thật mà đức Phật đã thuyết minh. Chúng ta tin tưởng những giáo lý ấy, vì người nói ra là đức Phật, đã thân chứng được và giác ngộ được nhờ giáo lý ấy.

Tin Tăng: Tăng là người thực hành các giáo lý của Phật để giác ngộ mình và người, là kẻ thay Phật đưa cao ngọn đuốc chính pháp sáng ngời, để soi đường cho chúng sinh. Vì thế, Phật tử suốt đời quy hướng về Tăng.

Luận Trí Độ, quyển thứ mười, giải rằng: “Năm căn này là căn bản để phát sinh tất cả thiện pháp, nên gọi là ngũ căn”. Năm căn ấy là: Tín căn, Tấn căn, Niệm căn, Định căn, Huệ căn.

2. Tấn căn:

Tấn là tinh tấn. Tấn căn là sự dũng mãnh tinh tấn trên bước đường tu tập không bao giờ thối lui. Nếu đã có lòng tin chắc chắn mà không tinh tấn thực hiện, làm theo những điều mình tin, thì lòng tin suông ấy trở thành vô dụng, không đưa chúng ta đến đâu cả.

Vậy cho nên người Phật tử đã tin Tam Bảo, thì phải luôn luôn tinh tấn thực hành giáo lý của Phật.

3. Niệm căn:

Niệm là ghi nhớ. Ghi nhớ những gì? Mục tiêu của niệm là nhớ nghĩ đến những phương pháp thực hành: Niệm thí (tu tập bổ thí); Niệm giới (việc trì tịnh giới đoạn trừ phiền não); Niệm thiên (nhờ nghĩ đến cách tu tập 4 thiền định, để thanh lọc hết các phiền não).

4. Định căn:

Định hay tịnh lự do dịch nghĩa chữ Phạn là Dhyana (Thiền na). Định là lắng tâm yên tịnh, chuyên chú vào chánh pháp, để suy đạt thật nghĩa của nó. Theo Luận Nhiếp Đại Thừa, định có thể chia làm ba bậc:

5. Huệ căn:

Huệ là trí huệ sáng suốt, thâm nhập được chân tướng của vạn pháp. Trí huệ ấy không có sự phân biệt, vì phân biệt là tác dụng của vọng thức, là mê lầm.

Nói một cách tổng quát giản dị, huệ căn là trí huệ do thiền định đã làm lặng sạch.

Ngũ căn và Ngũ lực vừa làm hai căn bản, vừa là nghị lực để phát sinh, tăng trưởng vô lượng công đức thù thắng.

Ngũ Lực

Ngũ lực tức là năm năng lực vĩ đại, năm thần lực của Ngũ căn. Nói một cách dễ hiểu: Ngũ căn như năm cánh tay, còn ngũ lực như là sức mạnh của năm cánh tay ấy.

1. Tín lực: tức là thần lực của đức tin, hay sức mạnh lớn lao, vi diệu do tín căn phát sinh.

2. Tấn lực: tức thần lực của đức tinh tấn, hay sức mạnh bất thối chuyển, kiên cố, có thể san bằng mọi trở lực, sức mạnh này do tấn căn phát sinh.

3. Niệm lực: tức là thần lực của sự ghi nhớ, hay sức mạnh lớn lao bền chắc của niệm căn.

4. Định lực: tức thần lực của sự tập trung tư tưởng hay sức mạnh vĩ đại của định căn.

5. Huệ lực: tức thần lực của trí huệ hay sức mạnh vô biên của huệ căn.

Nói một cách tổng quát, những sức mạnh này là kết quả thu đạt được do sự kiên cố tu luyện của Ngũ căn. Nó như là một ngọn lửa bật lên sau khi người ta đã nỗ lực cọ sát hai cây củi vào nhau để lấy lửa.

Huệ căn là trí huệ do thiền định đã làm lặng sạch.

Diệu Dụng Của Ngũ Căn Và Ngũ Lực

Như chúng ta đã thấy ở trên, Ngũ căn và Ngũ lực vừa làm hai căn bản, vừa là nghị lực để phát sinh, tăng trưởng vô lượng công đức thù thắng.

Bất luận người nào, hễ đã lấy trí làm nền tảng, tinh tấn thật hành chính pháp (tấn), hằng ghi nhớ chánh pháp để tiến tu (niệm), tập trung tư tưởng để trừ sạch vô minh phiền não, đem diệu huệ vô phân biệt (huệ) để chứng chân như, thì người ấy thế nào cũng nắm chắc trong tay quả vị vô thượng Bồ đề. Vì sao? Vì người ấy đã có những thần lực vĩ đại (Ngũ lực) do Ngũ căn gây tạo. Với ngũ lực này, hành giả như người bộ hành có đủ phương tiện linh lợi, diệu dụng để băng rừng, vượt biển và đi đến đích cuối cùng. Đích cuối cùng của người tu hành theo chính pháp tức là thành Phật. Đến đích này, người ấy là ánh sáng của chúng sinh gieo mầm an lạc. Chính người mới có đủ thần lực, diệu dụng làm cho chúng sinh trở thành những kẻ hoàn toàn giải thoát, hoàn toàn giác ngộ.

Minh Chính (TH)