Top 7 # Xem Nhiều Nhất Ý Nghĩa Của Từ Định Mức Mới Nhất 2/2023 # Top Like | Shareheartbeat.com

Định Mức Là Gì? Ý Nghĩa Của Từ, Ví Dụ Và Giải Thích

Không có gì thú vị hơn là viết về những gì các tiêu chuẩn là. Xem xét ý nghĩa của từ, ví dụ, từ đồng nghĩa và nói về số phận của khái niệm trong thế giới hiện đại.

Giá trị

Định nghĩa của “định mức” là vô cùng đa dạng. Do đó, để đẩy ra khỏi một cái gì đó, chúng ta sẽ thấy phổ của các giá trị có thể:

Thiết lập pháp lý, được công nhận, theo thói quen, nói chung là ràng buộc của sự vật. Đối với anh, chuẩn mực là uống một ly kefir mỗi tối trước khi đi ngủ.

Biện pháp cài đặt, giá trị trung bình của một cái gì đó. Càng Ivanov đang trồng 5 cây, Petrov là một, trung bình họ hoàn thành định mức 3 cây mỗi ngày.

Có một biểu thức là Bình thường, có thể được quy cho cả hai giá trị thứ nhất và thứ hai, bởi vì nó nắm bắt trạng thái thông thường của một ai đó hoặc một cái gì đó. Một mặt, đây là thứ tự thông thường của sự vật, và mặt khác, trạng thái trung bình của một vật hoặc người.

Ví dụ:

Sầu – Làm thế nào là Petrov và khó tiêu của mình?

– Alexey Semenovich, bình thường. Anh ấy đã ở bác sĩ vào một ngày khác.

Là bản chất của câu hỏi được làm rõ, các tiêu chuẩn là gì? Chúng tôi hy vọng như vậy.

Như mọi khi, để củng cố việc sở hữu kiến ​​thức mới, chúng tôi sẽ không để anh hùng nghiên cứu của chúng tôi một mình và cho anh ấy bạn bè dưới dạng từ thay thế, tương tự ngữ nghĩa.

Từ đồng nghĩa

Một từ có thể có bất kỳ thay thế theo ngữ cảnh. Chúng tôi sẽ chỉ tập trung vào những điều quan trọng nhất. Họ đây rồi:

Đây là những từ đồng nghĩa gần nhất. Và một lời khuyên khác: nếu đối tượng nghiên cứu có ích cho người đọc, thì hãy để anh ta lựa chọn cẩn thận thay thế. Định mức là gì? Đây là một từ cực kỳ mơ hồ, vì vậy bạn cần cảnh giác với nó. Từ đồng nghĩa thường biểu cảm hơn.

Định mức số lượng

Định mức có thể vừa là một khái niệm khách quan, vừa là một chỉ số chủ quan. Ví dụ, nhân viên của tạp chí Thanh niên hôm qua, hôm nay, ngày mai có 12 người, và vấn đề này bao gồm 36 bài báo. Mỗi nhân viên cần viết 3 bài viết mỗi tháng để tạp chí không thất bại về tốc độ thực hiện và tài liệu được giao đúng hạn.

3 bài báo nên là sắt. Với những số liệu này, không thể đàm phán hoặc bằng cách nào đó thay đổi. Và tất cả bởi vì tạp chí không phải là một người, mà là một loại thực thể trừu tượng, trái lại, tự nó quy định mọi người. Trên bất kỳ sản xuất, thậm chí trí tuệ, có chỉ số hiệu suất.

Trong thời Xô Viết, các số liệu tồn tại nhiều hơn cho các nhà chức trách hơn là kết quả thực tế, nhưng điều này không phải lúc nào cũng đúng. Một ví dụ nổi tiếng là Stakhanov, người cuối cùng bắt đầu có nghĩa là người đánh trống lao động, người hoàn thành hai hoặc ba chỉ tiêu mỗi ca. Và nếu bạn xem phim Liên Xô về công nhân (rõ ràng là họ có một mục tiêu ý thức hệ nhất định), thì ở đó những người làm việc chăm chỉ khá không chính thức về hồ sơ cá nhân của họ.

Đúng vậy, khi sức mạnh của những người Xô Viết trở nên suy đồi, ý nghĩa của từ “Norm Norm” ngày càng mất đi cường độ cảm xúc. Và ở nước Nga hiện đại, chế độ độc tài của giấy tờ đã thay thế bản chất sống của thực tế. Đúng vậy, đây là một căn bệnh cũ. Để xác minh điều này, chỉ cần đọc hoặc đọc lại N.V. Gogol và linh hồn đã chết của anh ta.

Vì vậy, trong mọi trường hợp, câu hỏi chính: định mức là gì và nó là gì? Bởi vì nó là chỉ số định lượng quyết định mục tiêu của tổ chức và mức độ hiệu quả của nó. Đúng vậy, tất cả chúng ta đều biết rằng một hệ thống như vậy là không hoàn hảo, và một số đồng chí đặc biệt thông minh dễ dàng thao túng nó, nhưng đây là một câu chuyện khác.

Chuẩn mực xã hội

Như người đọc có thể đã đoán, các chuẩn mực hành vi là các cơ sở chủ quan phụ thuộc vào xã hội, môi trường và thời gian.Các đơn đặt hàng như vậy là điện thoại di động, mặc dù tính tương đối của chúng là tùy ý. Ví dụ, bao xa là có thể vượt qua truyền thống? Điều này là khá khó khăn và canon công khai dường như không quá tầm thường với người đi ngược dòng. Một chuẩn mực xã hội là một quy ước ở một mức độ nhất định. Người đọc có thể dễ dàng thấy điều này nếu anh ta ít nhất nhìn vào thời trang.

Vào đầu thế kỷ 20, việc một người phụ nữ mặc quần dài là không đứng đắn, vào thời đó người ta tin rằng quần là một yếu tố nam độc quyền của tủ quần áo. Bây giờ thì sao Phụ nữ kinh doanh thích phù hợp với kinh doanh chính thức với quần tây.

Ví dụ, một người đàn ông ăn mặc theo phong cách châu Âu sẽ được xem xét và trông bất thường trong một bộ lạc châu Phi. Điều tương tự cũng đúng với một người châu Phi trong trang phục dân gian ở giữa Paris. Chúng tôi không mệt mỏi khi nhắc nhở rằng một chuẩn mực xã hội là một hiện tượng chuyển động và phụ thuộc vào các giá trị và tâm trạng cơ bản của thời đại trị vì ở đây và bây giờ.

“Norm” – một khái niệm bí ẩn

Thật đáng tiếc hay không, nhưng bây giờ thật khó để trả lời câu hỏi định mức là gì, bởi vì không ai thực sự biết điều này. Các giá trị cơ bản của một người bình thường (công việc, gia đình, tình bạn) bị bào mòn trong dòng chảy công nghệ hiện đại của cuộc sống. Thể chế hôn nhân đang khủng hoảng, người giàu thích có con, nhưng không sống chung. Một số thực hành hôn nhân khách.

Công việc được chia thành các dự án. Bây giờ không ai mơ ước được làm việc trong một văn phòng trong 20 năm, sau đó nghỉ hưu và chết bình yên trên một chiếc giường ấm áp được bao quanh bởi những người thân.

Tình bạn? Đơn giản là không có thời gian cho nó – một người đang sống cuộc sống quá bận rộn.

Người đọc sẽ nói rằng mọi thứ quá ảm đạm. Không hề. Bây giờ là lúc một người giải quyết nhiều vấn đề riêng lẻ, không dựa vào ma trận làm sẵn do xã hội đề xuất.

Định Mức Là Gì? Các Loại Định Mức Và Phương Pháp Xây Dựng

Định mức là gì?

Trong xây dựng, định mức là quy định và mức hao phí về nguyên vật liệu, máy móc thi công, chi phí nhân công cần thiết để hoàn thành một đơn vị khối lượng nào đó.  Còn định mức dự toán là các số liệu quan trọng để thiết lập dự toán và quản lý chi phí đầu tư xây dựng ở Việt Nam. Việc hiểu rõ định mức sẽ giúp cho người xây dựng có thể thực hiện công tác bóc tách khối lượng và áp mã chuẩn được dễ dàng.

 

Các loại định mức

Định mức kinh tế kỹ thuật là gì?

Định mức kinh tế kỹ thuật là những trị số liệu quy định các mức chi phí hao hụt tư liệu lao động và đội ngũ công nhân cho một sản phẩm xây dựng nào đó. Định mức này sẽ phục vụ trong quá trình thi công, sản xuất hoặc lập giá dự toán xây dựng. Loại định mức này được xác lập dựa trên cơ sở số liệu quan sát thực tế, thống kê thực tế để đảm bảo tính thực tiễn, khoa học. Định mức là gì? Định mức này phản ánh đúng trình độ tổ chức sản xuất và trình độ công nghệ trong xây dựng ở một giai đoạn cụ thể. Định mức là tư liệu có vai trò quan trọng trong định mức xây dựng, vì thế nó cần đáp ứng một số yêu cầu sau:

– Có các luận cứ khoa học về kỹ thuật, kinh tế, đảm bảo tính đúng đắn của kết quả về giá dự thầu, giá dự toán, dự toán thi công,….

– Định mức cần phải được xác định cho kết cấu và công tác xây lắp tương đối hoàn chỉnh. Đảm bảo phù hợp với nội dung thi công và thiết kế.

– Định mức cần phải tính tới các thành tựu khoa học kỹ thuật ứng dụng trong xây dựng. Đồng thời, kèm theo kinh nghiệm tiên tiến cùng khả năng thực tế của tổ chức xây lắp tại điều kiện thường.

– Kết cấu xây dựng và lắp ráp phải được hệ thống đồng bộ yêu cầu kỹ thuật công trình. Đảm bảo áp dụng ở điều kiện bình thường, phù hợp với cơ giới ở hiện tại.

Định mức tỷ lệ là gì?

Đây là loại định mức sử dụng để dự toán chi phí của một số công việc, chi phí khác trong đầu tư xây dựng. Định mức tỷ lệ này bao gồm:

– Tiến hành tư vấn đầu tư xây dựng.

– Chuẩn bị công trường, công trình phụ trợ.

– Thu nhập chịu thuế tính trước, chi phí chung và một số chi phí, công việc khác.

– Phương pháp xây dựng định mức cụ thể.

Định mức lao động là gì?

Đây là loại định mức lao động về thời gian lao động cần thiết để sản xuất ra một sản phẩm hoàn hiện. Nội dung định mức lao động sẽ bao gồm những yếu tố sau:

– Về thành phần công việc: Thực hiện các thao tác cơ bản, thao tác chính thực hiện các bước công việc.

– Về định biên: Xác định các cấp bậc kỹ thuật để thực hiện từng nội dung công việc.

– Về định mức: Sẽ quy định thời gian lao động để thực hiện công việc sản xuất ra sản phẩm. Đơn vị được tính là ngày công.

Định mức nguyên vật liệu là gì?

Đây là phương pháp xác định lượng vật liệu cần thiết để tạo ra một sản phẩm cho các chất liệu khác nhau. Mục đích chính của loại định mức nguyên vật liệu này là:

– Tính giá cả sản phẩm.

– Cân đối lại nhu cầu vật tư.

– Tối ưu hóa các sản phẩm.

– Đánh giá hiệu suất sử dụng vật tư của người thợ.

Định mức dụng cụ là gì?

Đây là loại định mức thời gian sử dụng dụng cụ cần thiết để tạo ra sản phẩm. Thời hạn của dụng cụ sẽ được tính bằng tháng. Mức độ sử dụng các dụng cụ phụ, nhỏ được tính bằng 10% mức độ sử dụng các dụng cụ chính.

Định mức thiết bị là gì?

Đây là định mức thời gian sử dụng các thiết bị cần thiết để sản xuất ra sản phẩm. Số ca máy sử dụng trong một năm sẽ được tính như sau:

– Máy nội nghiệp sẽ là 500 ca.

– Máy ngoại nghiệp sẽ là 200 ca.

Phương pháp xây dựng định mức như thế nào 

– Phương pháp thống kê: Đây là phương pháp được xây dựng dưa trên các tài liệu thu thập về hao phí thời gian thực tế. Nhằm mục đích hoàn thành công việc theo mỗi công đoạn và thời điểm khác nhau. – Phương pháp phân tích: Đây là phương pháp xây dựng định mức bằng việc phân chia và nghiên cứu tỉ mỉ quá trình quan trắc và phân tích thông số môi trường. Bước công việc được tính toán và định mức đến các nhân tố ảnh hưởng tới quy trình kỹ thuật vật tự tiêu hao. – Phương pháp phân tích và khảo sát: Đây là phương pháp xây dựng định mức dựa trên các tài liệu thu thập được qua phiếu điều tra hoặc trong khảo sát.

Nếu quý khách có nhu cầu thuê văn phòng giá tốt tại quận 1, văn phòng gần sân bay tại Tân Bình, văn phòng nhiều tiện ích tại 3… Hãy liên hệ Hotline Office Saigon: 0987 110011 để được tư vấn miễn phí.

CÔNG TY TNHH OFFICE SAIGON – Cho thuê văn phòng chuyên nghiệp

Đ/c: Tầng 24, Pearl Plaza Tower, 561A Điện Biên Phủ, P.25, Q.Bình Thạnh, TpHCM. Hotline: 0987 11 00 11 – 0938 339 086 Email:info@officesaigon.vn - Website: www.officesaigon.vn Khi bạn có nhu cầu cần ký gửi văn phòng cho thuê, liên hệ tại https://www.officesaigon.vn/ky-gui.htm

Gato Là Gì? Những Ý Nghĩa Của Từ Gato Là Gì? Ý Nghĩa Của Từ Gato

Gato nghĩa là gì? giải thích ý nghĩa của từ Gato trên Facebook với tính đố kị với thành công của người khác cho đến loại bánh ngọt nhiều kem nổi tiếng. Người ta hay gọi thói ghen ăn tức ở, hay chê bai nói xấu người khác là Gato, được dùng phổ biến trên mạng xã hội. Ngoài ra, đây còn là loại bánh hay dùng trong các buổi mừng sinh nhật xuất phát từ tên tiếng Pháp. Vậy bạn đã biết GATO là viết tắt của cụm từ nào chưa.

Đang xem: ý nghĩa của từ gato

1 – Gato nghĩa là gì?

GATO là gì?

GATO là từ lóng của giới trẻ, được viết tắt từ cụm từ Ghen Ăn Tức Ở, để chỉ thái đệ ganh ghét, đố kỵ với người khác. Đây là tâm lý hay tức tối, ghen tị với thành công hay sắc đẹp, sự may mắn hay lợi thế của người khác. Đi kèm với thói Gato là những lời chê bai, nói xấu.

Gato còn để chỉ tính cách hay đố kỵ, cứ thấy ai hơn mình cái gì là nói xấu và dè bỉu nhằm dìm hàng họ. Giống như kiểu bóc phốt trong giới nghệ sĩ vậy. Ví dụ “Anh Hùng hay quan tâm tao nên con bé thảo hay GATO với tao lắm”, hoặc “Con Trang tính hay Gato lắm mày ạ, tao nói gì nó cũng bĩu môi rồi còn hay nói xấu tao nữa chứ”.

2 – Ý nghĩa khác của Gato

Phải nói, thói GATO người khác là không tốt bởi chẳng ai hoàn hảo cả. Việc hay so sánh bản thân, rồi thấy mình thua bè kém bạn lại sinh ra ghen ăn tức ở, cố gắng dìm hàng người khác để mình có thể vượt trên họ thì không tốt chút nào.

Ngoài ra, Ga-tô phát âm tiếng Việt giống với từ Gateaux trong tiếng Pháp, để chỉ loại bánh ngọt nhiều kem với trang trí bắt mắt hay dùng trong các lễ sinh nhật, cưới hỏi, kỷ niệm. Bánh Gato được bày bán nhiều tại các cửa hàng bánh ngọt.

3 – Biểu hiện của người hay gato

Sự đố kỵ xuất phát từ những kẻ đứng dưới

Trong ngôn ngữ giới trẻ có một thuật ngữ là: “gato tri thức”. Thuật ngữ này chỉ những người trong cuộc sống thường xuyên thể hiện mình hơn người theo kiểu ngụy quân tử. Những người gato kiểu này thường không hề ồn ào, cũng rất ít thể hiện bản thân, quan điểm, chính kiến của mình một cách bừa bãi. Họ là người luôn im ỉm, thi thoảng đá xoáy, nói xấu, thậm chí là đổ thêm dầu vào lửa, cho thêm “ít muối” vào trong câu chuyện hoặc đối tượng mà họ ganh tị, ghét bỏ. Mà “nạn nhân” của “gato tri thức” thường là những người giỏi hơn họ, xinh đẹp hơn họ, được người khác yêu mến hơn 

Bên cạnh đội gato tri thức còn có một đội gọi là “gato trẻ trâu”. Những trường hợp này dễ nhận biết hơn vì họ ngược lại hoàn toàn với đội bên trên, có gì nói nấy, đánh thẳng mặt.

Ví dụ phổ biến nhất, dễ thấy nhất trên cộng đồng hiện nay: Khi ta đăng ảnh đẹp lung linh thì sẽ có những bạn Gato vào ném đá không thương tiếc như “mặt chát cả tấn phấn”, “360 độ thôi chứ ngoài đời như thị nở”, “con này chắc đi đào mỏ được anh đại gia nào rồi”… khi chúng ta bị nhắm bởi các bạn gato thì sẽ có hàng tỉ lý do để bêu xấu nhau. Sự gato trẻ trâu cũng đơn giản xuất phát từ sự hiếu thắng và ít kinh nghiệm sống. Họ giống như việc “ếch ngồi đáy giếng vậy”.

4 – Những từ gato thường được sử dụng

Mày Gato với tao à?

Câu này ám chỉ những người đang ghen ăn tức ở hoặc ghen tị với cuộc sống, những thứ bạn đang có được

Ăn bánh gato không?

Câu này quá đơn giản rồi đúng không các bạn? Ý của họ là đang mời bạn ăn bánh gato đó. Họ mời thì mình ăn thôi. Đừng suy nghĩ nhiều quá làm gì.

Mày bị ăn bánh GATO chứ gì?

Câu này là sự nâng cấp kết hợp lên một tầm cao mới. Khi họ nói nghĩa đen nhưng bạn phải hiểu ngay theo nghĩa bóng của câu này là: Mày chắc bị đứa nào đó làm mày phải ghen tị hoặc mày bị nó làm cho nổi cơn “ghen” chứ gì?

Thằng GATO!

Câu này được sử dụng nhiều ở các vùng miền mang hàm ý muốn nói là thằng gà tồ. Câu này rất ít được sử dụng hoặc thấy trong cuộc sống hằng ngày. Vậy nên, khi ai đó bảo bạn là một Thằng GATO nghĩa là họ đang nói rằng bạn còn ngu ngơ không hiểu vấn đề đó. 

Thằng G.A.T.O!

Thay vì đọc là “Ga tô” thì người đọc sẽ sờ píc ing lích là “Gi Ây Ti ôh” cũng mang theo nghĩa đen là ghen tị nhưng lại đọc theo hướng sang chảnh hơn. 

Hy vọng qua bài viết này mọi người đã hiểu ý nghĩa của từ GATO là gì và Gato viết tắt của từ nào rồi. Nhiều bạn cứ nghĩa Gato là xuất phát từ một từ tiếng Anh nào đó, nhưng ít ai ngờ lại viết tắt của cụm từ tiếng Việt “Ghen Ăn Tức Ở” chỉ thói hay đố kỵ, nói xấu người khác. Mong rằng các bạn sẽ không nhiễm tính Gato để sống hòa đồng với mọi người hơn.

Ý Nghĩa Ngữ Pháp Của Từ

LÊ Đình Tư (Trích từ: Lê Đình Tư & Vũ Ngọc Cân. Nhập môn ngôn ngữ học. Hà Nội, 2009)

Việc xác định ý nghĩa ngữ pháp của từ trong các ngôn ngữ có thể không giống nhau. Trong các thứ tiếng không biến hình, như tiếng Việt chẳng hạn, việc xác định ý nghĩa ngữ pháp thường phải dựa vào những đơn vị lớn hơn từ, tức là dựa vào khả năng kết hợp của từ với những từ khác. Ví dụ, từ ‘bàn’ trong tiếng Việt có thể là danh từ nếu nó nằm trong kết cấu ‘cái bàn’, song cũng có thể là động từ, nếu nó nằm trong ‘sẽ bàn’. Trong khi đó thì ở các ngôn ngữ biến hình, việc xác định ý nghĩa ngữ pháp của từ có vẻ dễ dàng hơn nhiều, vì người ta chỉ cần căn cứ vào cấu tạo của bản thân một từ nào đó mà thôi. Ví dụ: Trong tiếng Nga, xét một từ như ‘kraxivưi’ (đẹp) chẳng hạn, ta có thể khẳng định ngay rằng nó là một tính từ giống đực và là tính từ ở số ít… Sở dĩ ta có thể làm được điều đó là vì trong cấu tạo của từ này, có một dấu hiệu hình thức biểu thị những ý nghĩa ngữ pháp của từ: đó chính là biến tố [-ưi].

Những từ có chứa đựng dấu hiệu hình thức biểu thị các loại ý nghĩa ngữ pháp như vậy gọi là từ có cấu tạo hình thái. Đương nhiên, không phải tất cả các từ trong tất cả các ngôn ngữ trên thế giới đều có cấu tạo hình thái. Chẳng hạn, các từ trong tiếng Việt không có cấu tạo hình thái, nhưng phần lớn các từ của các thứ tiếng biến hình, như Nga, Đức, Pháp, Tây Ban Nha, đều có cấu tạo hình thái. Tuy nhiên, hệ thống cấu tạo hình thái của các từ trong các ngôn ngữ biến hình cũng không giống nhau. Có những ngôn ngữ hệ thống cấu tạo hình thái của từ rất phong phú (ví dụ như các ngôn ngữ Xlavơ), nhưng cũng có những ngôn ngữ, trong đó hệ thống cấu tạo hình thái lại khá nghèo nàn. Ví dụ như trong tiếng Anh, với một dạng thức từ như ‘love’, chúng ta khó có thể nói ngay là nó có ý nghĩa ngữ pháp gì, vì dạng thức này có thể là động từ, danh từ, hoặc tính từ, tuỳ thuộc vào sự kết hợp của nó với các từ khác. Tuy nhiên, dạng thức ‘loved’ của nó lại có thể cho ta biết ngay đây là thời quá khứ của động từ, hoặc đây là một tính động từ.

Như vậy, ngoài việc phân tích cấu tạo của từ để tìm hiểu các phương thức tạo từ mới trong các ngôn ngữ, ta còn có thể phân tích cấu tạo từ để tìm ra các dấu hiệu hình thức biểu thị các ý nghĩa ngữ pháp. Việc phân tích từ như vậy gọi là phân tích cấu tạo hình thái của từ. Nhờ kết quả phân tích cấu tạo hình thái của từ, ta có thể biết được trong một ngôn ngữ cụ thể, các loại ý nghĩa ngữ pháp được thể hịên như thế nào. Thông thường, để nhận biết các dấu hiệu hình thức biểu thị các ý nghĩa ngữ pháp của từ, người ta có thể đối lập các từ với nhau hoặc đối lập các dạng thức khác nhau của cùng một từ. Chẳng hạn, trong tiếng Nga, đối lập các từ ‘ozero’ (cái hồ) với ‘reka’ (sông), ta nhận biết được [-o] là dấu hiệu hình thức biểu thị “giống trung” của từ ‘ozero’, còn [-a] là dấu hiệu hình thức biểu thị giống cái của từ ‘reka’; song đối lập dạng thức ‘reka’ với dạng thức ‘reki’ (các dạng thức khác nhau của cùng một từ), ta nhận biết được [-a] là dấu hiệu hình thức biểu thị số ít, còn [-i] là dấu hiệu hình thức biểu thị số nhiều của từ ‘reka’. Những dấu hiệu hình thức dùng để biểu thị các ý nghĩa ngữ pháp gọi là ‘hình vị ngữ pháp’.

2. Các loại ý nghĩa ngữ pháp

Cũng giống như ý nghĩa từ vựng, ý nghĩa ngữ pháp là một phạm trù ý nghĩa, trong đó bao gồm một số thành phần ý nghĩa cụ thể hơn. Tuy nhiên, khác với trường hợp ý nghĩa từ vựng, vốn là phạm trù ý nghĩa bao gồm các thành phần ý nghĩa bộ phận giống nhau trong các ngôn ngữ (ý nghĩa biểu vật, ý nghĩa biểu niệm và ý nghĩa ngữ dụng), trong phạm trù ý nghĩa ngữ pháp, số lượng các thành phần ý nghĩa bộ phận có thể rất khác nhau giữa các ngôn ngữ: có ngôn ngữ, hệ thống ý nghĩa ngữ pháp của từ rất nghèo nàn, như tiếng Việt chẳng hạn, nhưng có những ngôn ngữ, hệ thống ý nghĩa ngữ pháp lại rất phong phú, ví dụ như tiếng Nga. Số lượng ý nghĩa ngữ pháp nhiều hay ít phụ thuộc vào từng ngôn ngữ hoặc từng loại hình ngôn ngữ.

Kết quả phân tích cấu tạo hình thái của các từ và/hoặc khả năng kết hợp của các từ trong một ngôn ngữ sẽ cho ta biết tổng số ý nghĩa ngữ pháp của ngôn ngữ đó.

Tổng hợp tất cả các loại ý nghĩa ngữ pháp trong các ngôn ngữ cho phép ta phân biệt những loại ý nghĩa ngữ pháp sau đây:

2.1 Ý nghĩa từ pháp hay ý nghĩa hình thái

Đó là ý nghĩa được phản ánh qua kiểu cấu tạo hình thái của từ và hệ biến đổi hình thái (gọi tắt là hệ biến thái) của nó, nếu có. Chẳng hạn, từ ‘reader’ (độc giả) trong tiếng Anh chỉ cho ta biết những thông tin ngữ pháp sau:

– Nó là một danh từ, – Nó là một danh từ số ít,

Song, một danh từ tiếng Nga còn có thể cho ta biết về hệ biến đổi hình thái của nó. Ví dụ: Từ ‘xtudentka’ (nữ sinh viên) với vĩ tố [-a] cho ta biết các ý nghĩa ngữ pháp sau:

– Nó là một danh từ giống cái, – Nó là một danh từ số ít, – Nó là một danh từ ở nguyên cách (chủ cách),

và danh từ này sẽ biến đổi theo hệ biến đổi hình thái đặc trưng cho những danh từ giống cái có vĩ tố [-a] (ví dụ, ở sở hữu cách số ít: [-i]; ở tặng cách số ít:[-e]; ở đối cách số ít: [-u], v.v…).

2.3 Ý nghĩa từ loại

Con công xòe rộng cái đuôi.Khúc sông chỗ này rất rộng.

Ý nghĩa từ loại của từ có thể được biểu thị bằng các hình vị ngữ pháp (ví dụ: [-er] trong tiếng Pháp hay [-at’] trong tiếng Nga biểu thị ý nghĩa ‘động từ’), nhưng cũng có thể không được thể hiện qua hình thức của từ, và do đó chỉ có thể nhận biết được ý nghĩa này của từ bằng cách phân tích những đơn vị lớn hơn từ, như trong tiếng Việt chẳng hạn.

(còn nữa)