Khái Niệm Nghiên Cứu Khoa Học Giáo Dục

--- Bài mới hơn ---

  • “giả Thuyết” Và “giả Thiết” Trong Nghiên Cứu Khoa Học
  • Lý Luận Cấu Thành Tội Phạm Trong Khoa Học Luật Hình Sự
  • “nhận Thức Khoa Học Về Phần Chung Pháp Luật Hình Sự Việt Nam Sau Pháp Điển Lần Thứ Ba”
  • Thư Mời Thiết Kế Chỉnh Sửa Logo Trường
  • Hội Thảo Khoa Học Quốc Tế “di Sản Tư Tưởng Của Các Mác Và Ý Nghĩa Thời Đại”
  • 1. Khái niệm nghiên cứu khoa học giáo dục

    Nghiên cứu khoa học

    Nghiên cứu có hai dấu hiệu

    Nghiên cứu khoa học giáo dục

    Nghiên cứu khoa học

    Kho tàng tri thức của loài người ngày một nhiều là do các thế hệ con người nối tiếp nhau làm nên, trong đó, chủ yếu là kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học. Vậy, nghiên cứu khoa học là gì?

    Nghiên cứu là một cô mang tính chất tìm tòi, xem xét cặn kẽ một vấn đề nào đó để nhận thức nó hoặc để giảng giải cho người khác rõ. Ví dụ: nghiên cứu một bài toán, nghiên cứu một câu nói để hiểu nó, nghiên cứu bảng giờ tàu để tìm chuyến đi thích hợp cho mình.

    Nghiên cứu có hai dấu hiệu

      Con người làm việc (tìm kiếm) tự lực (cá nhân hoặc nhóm)
      Tìm ra cái mới cho chủ thể, cho mọi người.

    Nếu đối tượng của công việc là một vấn đề khoa học thì công việc ấy gọi là nghiên cứu khoa học. Nếu con người làm việc, tìm kiếm, tuy xét một vấn đề nào đó một cách có phương pháp thì cũng có thể gọi là nghiên cứu khoa học.

    Nghiên cứu khoa học là sự tìm tòi, khám phá bản chất các sự vật (tự nhiên, xã hội, con người), nhằm thỏa mãn nhu cầu nhận thức, đồng thời sáng tạo các giải pháp tác động trở lại sự vật, biến đổi sự vật theo mục đích sử dụng.

    Nghiên cứu khoa học là một hoạt động xã hội, với chức năng tìm kiếm những điều mà khoa học chưa biết, hoặc là phát hiện bản chất sự vật, phát triển nhận thức khoa học về thế giới; hoặc là sáng tạo phương pháp mới và phương tiện kỹ thuật mới để cải tạo thế giới.

    Nghiên cứu khoa học, theo Dương Thiệu Tống là một hoạt động tìm hiểu có tính hệ thống đạt đến sự hiệu biết được kiểm chứng. Nó là một hoạt động nỗ lực có chủ đích, có tổ chức nhằm thu thập những thông tin, xem xét kỹ, phân tích xếp đặc các các dữ kiện lại với nhau rồi rồi đánh giá các thông tin ấy bằng con đường qui nạp và diễn dịch.

    Cũng theo những quan điểm trên, Vũ Cao Đàm cho rằng nghiên cứu khoa học nói chung là nhằm thỏa mãn về nhu cầu nhận thức và cải tạo thế giới đó là:

    • Khám phá những thuộc tính bản chất của sự vật và hiện tượng
    • Phát hiện qui luật vận động của sự vật và hiện tượng
    • Vận dụng qui luật để sáng tạo giải pháp tác động lên sự vật hiện tượng.

    Nghiên cứu khoa học là một quá trình sử dụng những phương pháp khoa học, phương pháp tư duy, để khám khá các hiện tượng, phát hiện qui luật để nâng cao trình độ hiểu biết, để giải quyết những nhiệm vụ lý luận hay thực tiễn, các đề xuất trên cơ sở kết quả nghiên cứu.

    Nghiên cứu khoa học giáo dục

    Nghiên cứu khoa học giáo dục là một hoạt động nghiên cứu khoa học đặc thù trong lĩnh vực giáo dục. Nó là một hoạt động có tính hệ thống, xuất phát từ khó khăn trong hoạt động giáo dục hay từ nhu cầu nhận thức hoạt động giáo dục nào đấy, cố gắng hiểu biết nhằm tìm ra được cách giải thích sâu sắc về cấu trúc và cơ chế cùng biện chứng của sự phát triển của một hệ thống giáo dục nào đó hay nhằm khám phá ra những khái niệm, những qui luật mới của thực tiễn giáo dục mà trước đó chưa ai biết đến.

    Sản phẩm của nghiên cứu khoa học giáo dục là những hiểu biết mới về họt động giáo dục (những chân lý mới, những phương pháp làm việc mới, những lý thuyết mới, những dữ báo có căn cứu). Nghiên cứu có nghĩa là tìm tòi: người nghiên cứu đi tìm cái mới (đã có trong thực tiễn hay tạo ra trong những kinh nghiệm có hệ thống và tập trung). Theo nghĩa đó, một công trình chỉ tập hợp các thông tin đã có sẵn không phải là một sản phẩm của nghiên cứu khoa học.

    Hoạt động nghiên cứu khoa học giáo dục là hoạt động sáng tạo: sáng tạo ra tri thức mới, kinh nghiệm mới, phương pháp mới giáo dục.

    Những công việc chủ yếu của nghiên cứu khoa học nói chung

    (1) Thu thập dữ liệu:

    (2) Sắp xếp dữ liệu:

    Qua nh ững hoạt động nghiên cứu ban đầu, ta thu được rất nhiều dữ liệu. Cần sắp xếp chúng lại theo hệ thống, thứ, loại, thậm chí có thể sàng lọc bớt những dữ liệu không cần thiết hoặc quyết định bổ sung thêm dữ liệu mới để công việc cuối cùng được đơn giản hơn.

    (3) Xử lí dữ liệu:

    Ðây là công vi ệc quan trọng nhất, giá trị nhất của nghiên cứu khoa học. Một lần nữa, nhà nghiên cứu phải phân tích các dữ liệu để có thể đoán nhận, khái quát hóa thành kết luận. Nếu dữ liệu là những con số, cần xử lí bằng thống kê, rút ra kết quả từ các đại lượng tính được. Tư duy khoa học bắt từ đây.

    (4) Khái quát hóa toàn bộ công trình, rút ra kết luận chung cho đề tài nghiên cứu

    1. GS. TS. Dương Thiệu Tống: Phương pháp nghiên cứu khoa học giáo dục và tâm lý. Nhà xuất bản khoa học xã hội, 2005, trang 22 ff.
    2. Vũ Cao Đàm: Phương pháp luận nghiên cứu khoa học. Nhà xuất bản Giáo dục, 1997, trang 23
    3. GS. TS. Dương Thiệu Tống: Phương pháp nghiên cứu khoa học giáo dục và tâm lý, nhà xuất bản khoa học xã hội, 2005, trang 22 ff.

    Tác phẩm, tác giả, nguồn

    • Tác phẩm: Tài liệu bài giảng Phương pháp nghiên cứu khoa học giáo dục, 2007
    • Tác giả: Ts. Nguyễn Văn Tuấn, Đại học sư phạm kỹ thuật TP. Hồ Chí Minh

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tổ Chức Khoa Học Tài Liệu Lưu Trữ Của Tạp Chí Cộng Sản
  • Phật Giáo Không Phải Mê Tín, Mà Là Khoa Học Vĩ Đại
  • Vài Nét Về : Phật Giáo & Khoa Học
  • Khoa Học Luật So Sánh
  • Đặc Điểm Của Nghiên Cứu Khoa Học
  • Nhu Cầu Về Nghiên Cứu Khoa Học Giáo Dục Ở Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Nghiên Cứu Khoa Học Là Gì? Mục Đích Và Ý Nghĩa Của Nckh
  • Xây Dựng Và Kiểm Định Giả Thuyết Nghiên Cứu
  • Cổng Sinh Viên, Cựu Sinh Viên, Học Viên Đại Học Huế
  • Trường Đại Học Khoa Học, Đh Huế
  • Logo Trường Đại Học Điện Lực
  • Giáo dục, cũng như y tế, có ảnh hưởng rất lớn đến tiền đồ của một quốc gia. Trong thời đại kinh tế tri thức và toàn cầu hóa, vai trò quan trọng của giáo dục càng được khẳng định. Chính sách giáo dục cần phải dựa vào chứng cứ đáng tin cậy. Chứng cứ phải được đúc kết từ nghiên cứu khoa học. Không phải ngẫu nhiên mà Hoa Kỳ và gần đây là Trung Quốc đều hết sức chú ý đến tầm quan trọng của nghiên cứu giáo dục. Tuy vậy, trong thực tiễn hiện nay hoạt động nghiên cứu giáo dục ở Việt Nam còn rất hạn chế và có thể nói rằng chưa đáp ứng được nhu cầu hoạch định chính sách. Bài viết này nêu rõ ý nghĩa của những đóng góp mà bộ môn nghiên cứu giáo dục có thể mang lại cho tiến trình cải cách giáo dục, đặc biệt là về mặt phương pháp. RESEARCH ON EDUCATION SCIENCE- AN URGENT NEED FOR AN ERA OF GLOBALIZATION Like health care policy, an education policy has important impacts on the future of a nation. In the era of knowledge-based economy and globalization, the important role of education is increasingly established. Education policies should be based on reliable scientific evidence, which are obtained from proper scientific research. It’s not an accident that the U.S, and more recently China have placed a great emphasis on educational research, which has helped those countries make a significant stride in education reform. However, in Vietnam, educational research as a scientific discipline has been formally established, and few scientific research have been done. As a result, most education policies in Vietnam have not been based on sound and relevant scientific evidence. The psent paper will brieftly review the contribution of educational research to the process of education reform in the US and China, and then provide a perspective of applied evidence-based education in Vietnam

    Không chỉ Việt Nam, mà nhiều nước trên thế giới cũng không hài lòng về tình trạng hiện tại của hệ thống giáo dục nước họ, và không ngừng tiến hành những cuộc cải cách. Hiện có khoảng 50 quốc gia đang thực hiện những cải cách sâu rộng trong lĩnh vực giáo dục, vì thực tiễn của kinh tế tri thức và toàn cầu hóa đang diễn tiến nhanh đến mức các hệ thống giáo dục hiện tại đều tỏ ra không bắt kịp những thay đổi mạnh mẽ ấy. Một cường quốc giáo dục như Hoa Kỳ cũng đang lo ngại vì tình trạng giáo dục xấu đi sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến kinh tế, đến mức tăng trưởng của họ trong tương lai. Những nước đang đạt được những thành tích ấn tượng như Trung Quốc chẳng hạn thì càng ra sức đầu tư cho giáo dục bậc cao, vì họ hiểu rõ chính chất lượng của giáo dục sẽ bảo đảm duy trì sức cạnh tranh của mình trong những năm sắp đến.

    Những nỗ lực cải cách giáo dục vừa đề cập trên là kết quả từ những nghiên cứu nghiêm túc về khoa học giáo dục. Có thể ví von rằng nghiên cứu về khoa học giáo dục là để cung cấp dữ liệu cho bản vẽ thiết kế ngôi nhà giáo dục và là để thiết kế ngôi nhà ấy. Tuy nhiên, tầm quan trọng của việc nghiên cứu khoa học giáo dục không phải lúc nào hay ở đâu cũng được nhận thức một cách đầy đủ. Do vậy, bài viết này dành một phần nói về vai trò và thực tiễn của việc nghiên cứu giáo dục ở một số nước, và phần còn lại, nói về bộ môn giáo dục quốc tế và so sánh như một bộ phận hết sức quan trọng của nghiên cứu khoa học giáo dục, hiện trạng và nhu cầu phát triển việc nghiên cứu về giáo dục quốc tế ở Việt Nam.

    Nghiên cứu khoa học giáo dục ở một số nước

    Ở Hoa Kỳ, Viện Nghiên cứu Khoa học Giáo dục (Institute of Education Science-IES) là một đơn vị được thành lập theo một đạo luật của Quốc hội, Viện trưởng do Tổng thống trực tiếp bổ nhiệm, với sự tham vấn và chấp thuận của Thượng viện, tức là nhân sự này được quyết định ở cấp cao nhất về mặt lập pháp và hành pháp của một quốc gia, điều này cho thấy chính phủ Hoa Kỳ coi trọng như thế nào tầm vóc lớn lao và ý nghĩa quan trọng của việc phát triển khoa học giáo dục. Sứ mạng của IES là cung cấp và chia sẻ rộng rãi những thông tin, sự kiện, bằng chứng của thực tiễn giáo dục và xã hội làm nền tảng cho việc xây dựng chính sách giáo dục và thực hiện chính sách ấy. Họ có nhiệm vụ “mang lại cho giới lãnh đạo quốc gia một hiểu biết và kiến thức cơ bản rộng rãi về giáo dục, từ cấp mầm non cho đến giáo dục đại học, cũng như mang lại cho các nhà nghiên cứu, các nhà làm chính sách, các nhà giáo dục, phụ huynh, sinh viên và công chúng những thông tin đáng tin cậy về toàn bộ hoạt động giáo dục. Kết quả nghiên cứu của họ được đòi hỏi là phải khách quan, phi tôn giáo, trung lập và không bị áp đặt ý thức hệ, cũng như không bị chi phối bởi những ảnh hưởng chính trị và thiên kiến về chủng tộc, văn hóa, giới hay khu vực”. Đó là nơi đào tạo ra những người nghiên cứu chuyên nghiệp về khoa học giáo dục.

    Viện Nghiên cứu Giáo dục Quốc gia Trung Quốc (China National Institute for Educational Research-CNIER) là cơ quan trực thuộc Bộ Giáo dục Trung Quốc, được thành lập năm 1957 với sự chấp thuận chính thức của Hội đồng Nhà nước và Ban Bí thư Trung ương. Trong “Cách mạng văn hóa” (1966-1976), nó bị giải tán và rồi sau đó được tái thành lập vào ngày 14 Tháng Bảy 1978 theo chỉ thị của Hội đồng Nhà nước trực tiếp là ông Đặng Tiểu Bình. CNIER gắn với nhiều khía cạnh của nghiên cứu chính sách giáo dục, nghiên cứu lý thuyết cơ bản, nghiên cứu giáo dục thực nghiệm, và nghiên cứu giáo dục so sánh. Họ có hai nhà xuất bản và bốn tạp chí khoa học lớn chuyên về giáo dục. CNIER quản lý các chương trình nghiên cứu về giáo dục trong cả nước, và được xem như cơ quan đầu não định hướng cho tất cả các cơ quan nghiên cứu khoa học giáo dục khác ở 30 tỉnh thành trong cả nước. CNIER có 140 nhà nghiên cứu trong biên chế cơ hữu. Viện được cơ cấu các ban chuyên môn là: Ban Phát triển Giáo dục, Ban Lý luận Giáo dục, Ban Giáo dục và Nguồn Nhân lực, Ban Khảo thí và Đánh giá Giáo dục, Ban Tâm lý học và Giáo dục Đặc biệt, Ban Chương trình Đào tạo và Phương pháp Giảng dạy, Ban Giáo dục học. Tương ứng với các ban, họ có các trung tâm nghiên cứu (TTNC): TTNC Chính sách Giáo dục, TTNC Giáo dục So sánh, TTNC Dạy nghề và Giáo dục cho Người lớn, TTNC về Khảo thí và Đánh giá Chất lượng Giáo dục, TTNC Giáo dục Mầm non, TTNC Giáo dục Đặc biệt. Tất nhiên, phạm vi nghiên cứu của họ còn bao quát rộng hơn như vậy. Ngoài các trung tâm nghiên cứu đã nêu họ có các chương trình và dự án để nghiên cứu hàng loạt vấn đề chẳng hạn như công nghệ giáo dục, khoa học kỹ thuật và phát triển xã hội, sức khỏe tâm thần, giáo dục gia đình, giáo dục cộng đồng, giáo dục thể chất và khoa học thần kinh, phát triển giáo dục và năng lực cạnh tranh của quốc gia theo quan điểm so sánh, v.v.

    Khác với Viện Khoa học Giáo dục Hoa Kỳ, nơi mà gần như mọi kết quả nghiên cứu thông tin, dữ liệu, thống kê đều được công khai cho công chúng tiếp cận, chúng ta sẽ không tìm thấy những thông tin đại loại như vậy trên trang web của Viện Nghiên cứu Giáo dục Quốc gia Trung Quốc hay ngay cả Viện Giáo dục Hong Kong. Trên trang web của CNIER hay HKIEd, có thể thấy họ đang nghiên cứu vấn đề gì, và ai đang thực hiện những đề tài hay chương trình, dự án nghiên cứu đó, nhưng không thể tìm thấy nội dung kết quả cụ thể của những nghiên cứu này. Có thể là truyền thống văn hóa Á châu còn xa lạ với thói quen minh bạch thông tin như phương Tây, nhưng câu hỏi quan trọng hơn cần đặt ra, là những kết quả nghiên cứu này đã có vai trò và ảnh hưởng như thế nào đối với những quyết sách chiến lược của nhà nước Trung Quốc trong lĩnh vực giáo dục. Rõ ràng là ở Hoa Kỳ, kết quả nghiên cứu về khoa học giáo dục có giá trị tư vấn cho Bộ Giáo dục và những nhà hoạch định chính sách quốc gia. Nhưng ở Trung Quốc, liệu các nhà nghiên cứu có một vai trò tương tự như thế hay không, hoặc là họ chỉ có nhiệm vụ “minh họa” cho các chủ trương đường lối của nhà nước, là điều không khó nhận ra. Một ví dụ dễ thấy, là hệ thống xếp hạng đại học của Trường Đại học Giao thông Vận tải (SJTU) và trào lưu đại học đẳng cấp quốc tế cùng với vô vàn công trình nghiên cứu về đề tài này đã ra đời sau khi chủ tịch Giang Trạch Dân tuyên bố quyết tâm của nhà nước đưa Trung Quốc trở thành một cường quốc về giáo dục đại học.

    Theo Philip Altbach, GDSS từ trong bản chất của mình, có tính chất quốc tế và chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của những xu hướng thế giới trong nghiên cứu và tri thức. Hầu hết các nhóm học giả nhỏ hơn trong lĩnh vực GDSS, chẳng hạn như Hàn Quốc, Brazil, Đài Loan, thậm chí cả Nhật Bản, đều hướng về hoạt động của các trung tâm GDSS chính để tìm định hướng cho xu hướng và phương pháp nghiên cứu của mình. Ở một số nước, nổi bật nhất là Trung Quốc, những bước phát triển đầy ấn tượng của GDSS gắn bó rất chặt chẽ với chính sách nhà nước. Sự phát triển của GDSS ở một số nước thuộc thế giới thứ ba, cùng với việc xây dựng các tổ chức và tạp chí chuyên môn, là một trong những bước phát triển lớn lao nhất. Việc tập hợp các học giả và thể chế hóa lĩnh vực này trong những cộng đồng GDSS nhỏ hơn như Úc, Canada, Nhật Bản, và nhiều nước Tây Âu khác, cho thấy sự lan rộng đầy ấn tượng của việc nghiên cứu GDSS trên toàn thế giới.

    Tuy vậy, những tạp chí nghiên cứu và các nhà xuất bản chủ yếu về GDQTSS vẫn nằm tại Mỹ và Anh, và tuyệt đại đa số những thứ được lưu hành quốc tế trong lĩnh vực chuyên môn này là được viết bằng tiếng Anh. Kluwer, một nhà xuất bản Đức chịu trách nhiệm ấn hành Tạp chí Quốc tế về Giáo dục đã thực hiện các ấn bản của mình hầu như toàn bộ bằng tiếng Anh! Điều đáng chú ý và thật đáng tiếc là nhiều bài viết về GDQTSS đã được dịch rộng rãi từ tiếng Anh sang nhiều thứ tiếng khác nhưng rất hiếm có những thứ được dịch từ các thứ tiếng khác sang tiếng Anh.

    Có nhiều bằng chứng cho thấy rõ GDSS ở cả Tây Âu và Đông Âu đã được xây dựng rất tốt và hoạt động rất tích cực. GDSS đã đóng một vai trò lớn lao trong việc hội nhập Châu Âu từ năm 1992 là do Cộng đồng Châu Âu đã nhấn mạnh giáo dục như một nhân tố quan trọng để xây dựng một châu Âu thống nhất.

    Tuy nhiên, những nỗ lực nói trên còn rất xa mới đáp ứng được nhu cầu của việc nghiên cứu về giáo dục quốc tế nói riêng, và khoa học giáo dục nói chung, trong bối cảnh Việt Nam cần có một cuộc cải cách giáo dục sâu rộng. Cho dù thực tiễn mỗi nước rất đa dạng, giáo dục vẫn vận hành theo những nguyên lý chung và chia sẻ những giá trị chung. Rất dễ đồng ý rằng không thể thành công khi sao chép y nguyên một mô hình giáo dục nào trên thế giới, vì mỗi quốc gia có những nền tảng văn hóa và kinh tế chính trị khác nhau, nhưng không phải ai cũng thấy rằng không nên cường điệu những nét đặc thù của mỗi quốc gia để rồi tách chúng ta khỏi xu hướng phát triển chung của cộng đồng quốc tế. Y học thực chứng (evidence- based medicine) đã trở thành kim chỉ nam cho thực hành y khoa và chính sách y tế công cộng, nhưng trong lĩnh vực giáo dục, thì giáo dục thực chứng (evidence-based education) chưa được chú ý, ngay cả trên thế giới hiện nay cũng có rất ít nghiên cứu giáo dục thực chứng. Do vậy, định hướng tương lai sẽ là tăng cường nghiên cứu khoa học giáo dục và giáo dục thực chứng sẽ là xu hướng chủ đạo. Cách tiếp cận việc nghiên cứu giáo dục qua lăng kính dựa trên bằng chứng và dữ kiện như vậy có thể thổi một luồng gió mới vào hoạt động nghiên cứu khoa học giáo dục ở Việt Nam Nguồn: http://nces.ed.gov/programs/digest/d08/tables/dt08_377.asp?referrer=report

    Nguồn: http://www.ied.edu.hk/web/view.php?page=about_hkied

    Nguồn: Altbach P. G., Trends in Comparative Education, Comparative Education Review, Vol 35, 3:1991.

    Đoạn văn này đã được tác giả sử dụng trước đây trong lời nói đầu của Bản tin Thông tin GDQTSS của Đại học Hoa Sen, số 1-2010.

    [9] Ý tưởng này là của Bùi Mạnh Hùng.

    Ly Pham

    What you see depends on where you stand (Albert Einstein).

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tương Đồng Giữa Khoa Học Và Phật Giáo Theo Nhà Vật Lý Thiên Văn Trịnh Xuân Thuận
  • Đức Phật Trong Cái Nhìn Của Các Nhà Khoa Học
  • Đạo Phật Từ Góc Nhìn Khoa Học
  • Các Nhà Khoa Học Nói Gì Về Đức Phật?
  • Đối Thoại Về Phật Giáo Và Khoa Học
  • Đặc Điểm Của Nghiên Cứu Khoa Học

    --- Bài mới hơn ---

  • Khoa Học Luật So Sánh
  • Vài Nét Về : Phật Giáo & Khoa Học
  • Phật Giáo Không Phải Mê Tín, Mà Là Khoa Học Vĩ Đại
  • Tổ Chức Khoa Học Tài Liệu Lưu Trữ Của Tạp Chí Cộng Sản
  • Khái Niệm Nghiên Cứu Khoa Học Giáo Dục
  • [School_PPNCKH] Đặc điểm của nghiên cứu khoa học

    Trước khi tìm hiểu các đặc điểm của nghiên cứu khoa học chúng ta hãy tìm hiểu xem khoa học là gì và nghiên cứu khoa học là như thế nào? 😀

    Từ ” khoa học ” xuất phát từ tiếng Latin “Scienta”, nghĩa là tri thức. Theo Webter’s New Collegiste Dictionary, “Khoa học” được định nghĩa là “những tri thức đạt được qua kinh nghiệm thực tế và nghiên cứu”.

    Nghiên cứu khoa học là hành động tìm hiểu, quan sát, thí nghiệm … dựa trên những số liệu, dữ liệu, tài liệu thu thập được để phát hiện ra bản chất, quy luật chung của sự vật, hiện tượng, tìm ra những kiến thức mới (đây là hướng nghiên cứu hàn lâm) hoặc tìm ra những ứng dụng kỹ thuật mới, những mô hình mới có ý nghĩa thực tiễn (đây là hướng nghiên cứu ứng dụng).

    Nghiên cứu khoa học là một dạng hoạt động xã hôi, là một dạng nhân công lao động xã hội và có các đặc điểm sau:

    1. Tính mới mẻ

    Quá trình nghiên cứu khoa học là quá trình sáng tạo ra những điều mới mẻ, vì vậy nó có tính mới mẻ.- Quá trình nghiên cứu khoa học không có sự lặp lại các thí nghiệm hoặc một việc gì đã được làm trước đó.

    – Tính mới trong nghiên cứu khoa học được hiểu là dù đạt được một phát hiện mới thì người nghiên cứu vẫn phải hướng tới, tìm tòi những điều mới mẻ hơn.

    2. Tính thông tin

    Sản phẩm của nghiên cứu khoa học có thể là một bài báo khoa học, tác phẩm khoa học, cũng có thể là một mẫu vật, sản phẩm mới, … Tuy nhiên dù sản phẩm đó là gì thì nó đều mang đặc trưng thông tin về quy luật vận động của sự vật hiện tượng, thông tin về quy trình công nghệ và các tham số đi kèm.

    3. Tính khách quan

    Tính khách quan là đặc điểm của nghiên cứu khoa học và cũng là tiêu chuẩn của người nghiên cứu khoa học. Nếu trong nghiên cứu khoa học mà không khách quan thì sản phẩm nghiên cứu khoa học sẽ không thể chính xác và không có giá trị gì cả.

    4. Tính tin cậy

    Một kết quả nghiên cứu được gọi là tin cậy nếu nó có khả năng kiểm chứng bởi bất kỳ người nào, bất kỳ trong trường hợp, điều kiện giống nhau nào đều cho một kết quả như nhau.

    5. Tính rủi ro

    Nghiên cứu khoa học là quá trình tìm ra cái mới, vì vậy nó có thể thành công hoặc thất bại, thành công sớm hoặc thành công rất muộn. Vì vậy tính rủi ro của nó là rất cao.

    6. Tính kế thừa

    – Tính kế thừa có ý nghĩa quan trọng về mặt phương pháp nghiên cứu khoa học.- Hầu hết các phương hướng nghiên cứu đều xuất phát và kế thừa từ các kết quả đã đạt được trước đó.

    7. Tính cá nhân

    Dù có thể là một nhóm người cùng thực hiên nghiên cứu thì vai trò cá nhân trong sáng tạo cũng mang tính quyết định

    8. Tính kinh phí

    – Nghiên cứu khoa học rất khó định lượng được một cách chính xác như trong lao động sản xuất và thậm chí có thể nói không thể định mức.

    – Hiệu quả kinh tế không thể xác định được

    – Lời nhuận không dễ xác định

    --- Bài cũ hơn ---

  • Làm Thế Nào Để Viết Tốt Một Luận Văn Khoa Học
  • Ý Nghĩa Khái Niệm Khoa Học Cơ Bản
  • Ý Nghĩa Khái Niệm Nghiên Cứu Khoa Học Cơ Bản
  • Câu Chuyện Thương Hiệu Phía Sau Logo Đại Học Kinh Tế
  • Logo Bách Khoa Hà Nội Và Tp.hcm
  • Nghiên Cứu Khoa Học Là Gì? Mục Đích Và Ý Nghĩa Của Nckh

    --- Bài mới hơn ---

  • Xây Dựng Và Kiểm Định Giả Thuyết Nghiên Cứu
  • Cổng Sinh Viên, Cựu Sinh Viên, Học Viên Đại Học Huế
  • Trường Đại Học Khoa Học, Đh Huế
  • Logo Trường Đại Học Điện Lực
  • Trường Đại Học Khoa Học Huế Khai Giảng Năm Học Mới
  • Nghiên cứu khoa học là gì ? Nghiên cứu khoa học là một quá trình hành động, tìm hiểu, quan sát và thí nghiệm dựa vào các dữ liệu, tài liệu đã được thu thập giúp phát hiện ra những bản chất và quy luật chung của sự vật và hiện tượng. Thông qua đây, bạn có thể tìm hiểu về các kiến thức mới hay tìm ra những ứng dụng trong kỹ thuật, mô hình mới với ý nghĩa thực tiễn.

    Nghiên cứu khoa học tập trung vào những nội dung chính như sau:

    • Nghiên cứu khoa học được xem là một quá trình nhận thức hướng vào tất cả các góc cạnh trên thế giới nhằm đạt kết quả nghiên cứu mới hơn, cao hơn, giá trị hơn.
    • Nghiên cứu khoa học là việc khám phá về thuộc tính, bản chất của sự vật, hiện tượng nhằm phát hiện những quy luật vận động vốn có của những sự vật, hiện tượng có trong tự nhiên và xã hội.

    Các loại hình nghiên cứu khoa học

    Tùy thuộc vào từng mục tiêu nghiên cứu và những sản phẩm thu được khác nhau người ta phân chia thành các loại hình nghiên cứu khoa học. Nghiên cứu khoa học bao gồm những loại hình sau:

    Đây là hoạt động nghiên cứu giúp phát hiện ra bản chất và quy luật của sự vật, hiện tượng có trong tự nhiên, xã hội và con người. Nhờ vào những phát hiện này để làm thay đổi về nhận thức của con người.

    Nghiên cứu cơ bản bao gồm nghiên cứu cơ bản thuần túy và nghiên cứu cơ bản định hướng. Trong nghiên cứu cơ bản định hướng lại được chia làm nghiên cứu nền tảng và nghiên cứu chuyên đề.

    Hoạt động nghiên cứu này sẽ vận dụng những quy luật đã được phát hiện bởi nghiên cứu cơ bản. Nhờ vào đó sẽ giúp giải thích được những vấn đề, sự vật, hiện tượng nhằm giúp hình thành nguyên lý công nghệ, sản phẩm, dịch vụ mới và áp dụng chúng vào hoạt động sản xuất và trong đời sống…

    Hoạt động nghiên cứu thăm dò nhằm xác định ra các phương hướng nghiên cứu, thăm dò thị trường giúp tìm kiếm cơ hội nghiên cứu.

    Ý nghĩa của nghiên cứu khoa học

    Nghiên cứu khoa học mang tới nhiều ý nghĩa cho người thực hiện nghiên cứu. Thông qua bài nghiên cứu sẽ giúp mọi người được chủ động hơn và hình thành được những phương pháp, tư duy mới. Từ đó sẽ giúp phát hiện ra vấn đề và giải quyết vấn đề một cách tốt nhất.

    Một công trình nghiên cứu khoa học thành công còn giúp mang tới niềm vui cho người thực hiện. Đồng thời đây cũng là một giai đoạn tiền đề tạo điều kiện cho các bạn thực hiện tốt những dự án, bài báo cáo sau này.

    Mục đích nghiên cứu khoa học

    Một bài nghiên cứu khoa học hoàn chỉnh bao gồm các mục tiêu cơ bản như sau:

    Mục tiêu sáng tạo

    Đây là mục đích tạo ra công nghệ mới đối với toàn bộ những lĩnh vực hoạt động có trong đời sống và xã hội nhằm nâng cao về trình độ văn minh và nâng cao năng suất đối với tất cả những lĩnh vực hoạt động.

    Mục đích kinh tế

    Nghiên cứu khoa học giúp mang tới hiệu quả kinh tế cao, từ đó làm tăng trưởng kinh tế trong xã hội.

    Mục đích văn hóa và văn minh

    Hoạt động nghiên cứu khoa học giúp mở mang trí thức, nâng cao về trình độ văn hóa. Đây cũng là bước cơ bản giúp hoàn thiện con người, đưa xã hội phát triển lên một trình độ văn mình hơn.

    Bài nghiên cứu khoa học được thực hiện cần phải đảm bảo những đặc điểm cơ bản như sau:

    Đây là một thuộc tính quan trọng trong nghiên cứu khoa học. Một bài nghiên cứu khoa học cần phải hướng đến phát hiện mới và không có sự lặp lại của các thí nghiệm, cách lý giải và kết luận cũ,… Tính mới trong nghiên cứu khoa học đòi hỏi phải có sự sáng tạo và tư duy nhạy bén.

    Kết quả nghiên cứu nào đưa ra đều phải được kiểm chứng lại nhiều lần. Bởi trong một công trình nghiên cứu khoa học có thể được thực hiện bởi nhiều người, trong nhiều điều kiện khác nhau…

    Kết quả nghiên quả cần phải đủ độ tin cậy để kết luận về bản chất của sự vật và hiện tượng.

    Tính khách quan trong bài nghiên cứu khoa học đó chính là sự trung thực. Vì vậy để đảm bảo được về tính khách quan, người nghiên cứu không được nhận định một cách vội vàng dựa theo cảm tính mà cần phải kiểm tra lại kết luận xem đã chính xác hoàn toàn chưa.

    Mục đích nghiên cứu khoa học là góp phần tăng hiệu quả kinh tế. Do đó đặc điểm không thể bỏ qua của nghiên cứu khoa học là tính kinh tế.

    Khi nghiên cứu khoa học, cần phải tính toán và cân nhắc một cách thận trọng. Tuy nhiên đôi lúc người thực hiện nghiên cứu khoa học cũng cần để ý tới những yêu cầu sau:

    • Người nghiên cứu cần mạnh dạn nhìn nhận vấn đề, đề tài chưa có ai thực hiện nghiên cứu hay những đề tài mang tính mới mẻ.
    • Cần phải chấp nhận được rủi ro, thất bại trong nghiên cứu khoa học.

    Bài nghiên cứu khoa học mẫu

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nhu Cầu Về Nghiên Cứu Khoa Học Giáo Dục Ở Việt Nam
  • Tương Đồng Giữa Khoa Học Và Phật Giáo Theo Nhà Vật Lý Thiên Văn Trịnh Xuân Thuận
  • Đức Phật Trong Cái Nhìn Của Các Nhà Khoa Học
  • Đạo Phật Từ Góc Nhìn Khoa Học
  • Các Nhà Khoa Học Nói Gì Về Đức Phật?
  • Ý Nghĩa Của Việc Nghiên Cứu, Học Tập Chủ Nghĩa Xã Hội Khoa Học

    --- Bài mới hơn ---

  • Vị Trí, Chức Năng Và Ý Nghĩa Của Việc Học Tập Chủ Nghĩa Xã Hội Khoa Học.
  • Bài 12: Những Thành Tựu Chủ Yếu Và Ý Nghĩa Lịch Sử Của Cách Mạng Khoa Học
  • Nghiên Cứu Khkt Có Ý Nghĩa Lớn Trong Đổi Mới Chương Trình Gd Phổ Thông
  • Cấu Trúc Một Đề Tài Nghiên Cứu Khoa Học
  • Phim Khoa Học Viễn Tưởng Hay Và Ý Nghĩa Nhất Bạn Nên Xem.
  • Về mặt lý luận: Việc nghiên cứu, học tập, vận dụng và phát triển lý luận chủ nghĩa Mác-Lênin là phải chú ý cả ba bộ phận hợp thành của nó.

    Nếu không chú ý nghiên cứu, học tập, vận dụng, phát triển chủ nghĩa xã hội

    khoa học sẽ làm cho triết học, kinh tế chính trị học Mác-Lênin dễ chệch hướng chính trị – xã hội, trước hết và chủ yếu là chệch hướng bản chất, mục tiêu là xây dựng chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản, giải phóng hoàn toàn xã hội và con người khỏi các chế độ tư hữu, áp bức, bất công, chiến tranh, nghèo nàn lạc hậu và mọi tai họa xã hội khác… mà thực tế lịch sử nhân loại đã từng chứng kiến.

    Nghiên cứu, học tập chủ nghĩa xã hội khoa học còn có ý nghĩa lý luận là: trang bị những nhận thức chính trị – xã hội (như đối tượng, chức năng, nhiệm vụ và phương pháp của chủ nghĩa xã hội khoa học đã nêu trên) cho

    đảng cộng sản, nhà nước và nhân dân lao động trong quá trình bảo vệ và xây dựng chủ nghĩa xã hội… Vì thế, các nhà kinh điển Mác-Lênin có lý khi xác định rằng, chủ nghĩa xã hội khoa học là vũ khí lý luận của giai cấp công nhân hiện đại và đảng của nó để thực hiện quá trình giải phóng nhân loại và giải phóng bản thân mình. Cũng như triết học và kinh tế chính trị học Mác- Lênin, chủ nghĩa xã hội khoa học không chỉ giải thích thế giới mà căn bản là ở chỗ cải tạo thế giới (cả tự nhiên, xã hội và bản thân con người) theo hướng tiến bộ, văn minh.

    Đội ngũ trí thức và thế hệ trẻ nước ta hiện nay là những lực lượng xã hội có trí tuệ, có nhiều khả năng và tâm huyết trong quá trình cải tạo và xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Nếu chỉ thuần tuý chú trọng về

    khoa học và công nghệ, phi chính trị, hoặc mơ hồ về chính trị và vi phạm pháp luật, họ càng không thể góp tài góp sức xây dựng Tổ quốc của mình.

    Nghiên cứu, học tập chủ nghĩa xã hội khoa học chính là việc được trang bị trực tiếp nhất về ý thức chính trị – xã hội, lập trường tư tưởng chính trị và bản lĩnh cho mỗi cán bộ, đảng viên và mọi công dân Việt Nam góp phần thực hiện thắng lợi sự nghiệp đổi mới, định hướng xã hội chủ nghĩa do Đảng đề ra.

    Nghiên cứu, học tập chủ nghĩa xã hội khoa học cũng làm cho ta có căn cứ nhận thức khoa học để luôn cảnh giác, phân tích đúng và đấu tranh chống lại những nhận thức sai lệch, những tuyên truyền chống phá của chủ nghĩa đế quốc và bọn phản động đối với Đảng ta, Nhà nước, chế độ ta; chống chủ nghĩa xã hội, đi ngược lại xu thế và lợi ích của nhân dân, dân tộc và nhân loại tiến bộ.

    Về mặt thực tiễn, bất kỳ một lý thuyết khoa học nào, đặc biệt là các khoa học xã hội, bao giờ cũng có khoảng cách nhất định so với thực tiễn, nhất là những dự báo khoa học có tính quy luật. Nghiên cứu, học tập chủ nghĩa xã hội khoa học lại càng thấy rõ những khoảng cách đó, bởi vì chủ nghĩa xã hội trên thực tế, chưa có nước nào xây dựng hoàn chỉnh. Sau khi chế độ xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu và Liên Xô sụp đổ, cùng với thoái trào của hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới, lòng tin vào chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa xã hội khoa học, chủ nghĩa Mác-Lênin của nhiều người có giảm sút.

    Đó là một thực tế dễ hiểu. Vì thế, nghiên cứu, giảng dạy chủ nghĩa xã hội khoa học càng khó khăn trong tình hình hiện nay và cũng có ý nghĩa chính trị cấp bách.

    Chỉ có bình tĩnh và sáng suốt, kiên định và chủ động sáng tạo tìm ra những nguyên nhân cơ bản và bản chất của những sai lầm, khuyết điểm, khủng hoảng, đổ vỡ và của những thành tựu to lớn trước đây cũng như của

    những thành quả đổi mới, cải cách ở các nước xã hội chủ nghĩa, chúng ta mới có thể đi tới kết luận chuẩn xác rằng: không phải do chủ nghĩa xã hội – một xu thế xã hội hoá mọi mặt của nhân loại; cũng không phải do chủ nghĩa Mác-Lênin, chủ nghĩa xã hội khoa học… làm các nước xã hội chủ nghĩa khủng hoảng. Trái lại, chính là do các nước xã hội chủ nghĩa đã nhận thức và hành động trên nhiều vấn đề trái với chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa Mác-Lênin… đã giáo điều, chủ quan duy ý chí, bảo thủ, kể cả việc đố kỵ, xem nhẹ những thành quả chung của nhân loại, trong đó có chủ nghĩa tư bản; đồng thời do xuất hiện chủ nghĩa cơ hội – phản bội trong một số đảng cộng sản và sự phá hoại của chủ nghĩa đế quốc thực hiện âm mưu diễn biến hoà bình đã làm cho chủ nghĩa xã hội thế giới lâm vào thoái trào.

    Thấy rõ thực chất những vấn đề đó một cách khách quan, khoa học; đồng thời được minh chứng bởi thành tựu rực rỡ của sự nghiệp đổi mới, cải cách của các nước xã hội chủ nghĩa, trong đó có Việt Nam, chúng ta càng củng cố bản lĩnh kiên định, tự tin tiếp tục sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc theo định hướng xã hội chủ nghĩa mà Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lựa chọn.

    Do đó, việc nghiên cứu học tập chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung, lý luận chính trị – xã hội nói riêng và các khoa học khác… càng là vấn đề thực tiễn cơ bản và cấp thiết. Xây dựng, chỉnh đốn

    Đảng, chống mọi biểu hiện cơ hội chủ nghĩa, dao động, thoái hoá, biến chất trong đảng và cả xã hội, giáo dục lý luận chính trị – xã hội một cách cơ bảnkhoa học tức là ta tiến hành củng cố niềm tin thật sự đối với chủ nghĩa xã hội… cho cán bộ, học sinh, sinh viên, thanh thiếu niên và nhân dân. Tất nhiên đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và mở rộng hợp tác quốc tế; tiến hành hội nhập quốc tế, toàn cầu hoá về kinh tế; xây dựng “kinh tế tri thức”, thực hiện cơ chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa… đang là những vận hội lớn, đồng thời cũng có những thách thức lớn đối với nhân dân ta, dân tộc ta. Đó cũng là trách nhiệm lịch sử rất nặng nề và vẻ vang của cả thế hệ trẻ đối với sự nghiệp xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa, cộng sản chủ nghĩa trên đất nước ta.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hội Thảo Khoa Học Quốc Tế “di Sản Tư Tưởng Của Các Mác Và Ý Nghĩa Thời Đại”
  • Thư Mời Thiết Kế Chỉnh Sửa Logo Trường
  • “nhận Thức Khoa Học Về Phần Chung Pháp Luật Hình Sự Việt Nam Sau Pháp Điển Lần Thứ Ba”
  • Lý Luận Cấu Thành Tội Phạm Trong Khoa Học Luật Hình Sự
  • “giả Thuyết” Và “giả Thiết” Trong Nghiên Cứu Khoa Học
  • Ý Nghĩa Khái Niệm Nghiên Cứu Khoa Học Cơ Bản

    --- Bài mới hơn ---

  • Ý Nghĩa Khái Niệm Khoa Học Cơ Bản
  • Làm Thế Nào Để Viết Tốt Một Luận Văn Khoa Học
  • Đặc Điểm Của Nghiên Cứu Khoa Học
  • Khoa Học Luật So Sánh
  • Vài Nét Về : Phật Giáo & Khoa Học
  • ý Nghĩa Khái Niệm Nghiên Cứu Khoa Học Cơ Bản, Khái Niệm Nghiên Cứu Khoa Học, ý Nghĩa Khái Niệm Khoa Học Cơ Bản, ý Nghĩa Khái Niệm Khoa Học, ý Nghĩa Đề Tài Nghiên Cứu Khoa Học, ý Nghĩa Của Đề Cương Nghiên Cứu Khoa Học, Quan Niệm Khoa Học Nghiên Cứu Về Hành Vi Coi Xung Đột Trong Tổ Chức Là, ý Nghĩa Khái Niệm Vận Tốc, ý Nghĩa Khái Niệm, Khái Niệm Chủ Nghĩa Xã Hội, Khái Niệm Xã Hội Chủ Nghĩa, Từ Khái Niệm Có Nghĩa Là Gì, Khái Niệm Đền ơn Đáp Nghĩa, Khái Niệm Nhân Nghĩa, ý Nghĩa Khái Niệm Tội Phạm, Khái Niệm Chủ Nghĩa Mác Lênin, Khái Niệm Chủ Nghĩa Mác Lênin Là Gì, Định Nghĩa Khái Niệm, Định Nghĩa Khái Niệm Là Gì, ý Nghĩa Khái Niệm Vật Chất, ý Nghĩa Khái Niệm Tư Tưởng Hồ Chí Minh, ý Nghĩa Khái Niệm Tròn Và Vuông, ý Nghĩa Khái Niệm Thời Gian, Từ Khái Niệm Trong Tiếng Anh Nghĩa Là Gì, ý Nghĩa Khái Niệm Ngân Sách Nhà Nước, Khái Niệm Khoa Học, Khái Niệm Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa, Khái Niệm Khóa Chính, Khái Niệm ăn Uống Có Khoa Học, Khái Niệm Nào Được Định Nghĩa Giống Như Cường Độ Hay Độ Tinh Khiết Của M, Kế Hoạch Triển Khai Công Tác Nghiên Cứu Khoa Học Và Công Nghệ, Khái Niệm Cấu Trúc Đặc Điểm Và Yêu Cầu Về Phong Cách Làm Việc Khoa Học Của Người Giáo Viên Mầm Non, ý Nghĩa Của Việc Nghiên Cứu Chủ Nghĩa Mác Lênin, Nghiên Cứu Chiết Xuất Và Bào Chê Viên Giảo Cổ Lam (khoá Luận Tốt Nghiệp Dược Sĩ Khoá 2002 – 2007, Quan Niệm Của Chủ Nghĩa Duy Tâm Và Chủ Nghĩa Duy Vật Trước Mác Về Vật Chất Có Những Hạn Chế Nào, Quan Niệm Của Chủ Nghĩa Duy Tâm Và Chủ Nghĩa Duy Vật Trước Mác Về Phạm Trù Vật Chất, ý Nghĩa Của Việc Nghiên Cứu Chủ Nghĩa Mác, ý Nghĩa Đề Tài Nghiên Cứu, Quan Niệm Khác Nhau Về Đối Tượng Nghiên Cứu Của Kinh Tế Chính Trị, Quan Niệm Khác Nhau Về Đối Tượng Nghiên Cứu Của Kinh Tế Chính Trị Không Thay Đổi, Nghiên Cứu Mô Hình Z-score Trong Đánh Giá Rủi Ro Tài Chính Của Các Doanh Nghiệp Niêm Yết Trên Thị Tr, Lịch Sử Nghiên Cứu Vấn Đề Về Lãnh Đạo Cả Nước Xây Dựng Và Bảo Vệ Chủ Nghĩa Xẫ Hội, Đề Tài Nghiên Cứu Khoa Học Cấp Cơ Sở, Mẫu Bìa Đề Tài Nghiên Cứu Khoa Học, Đề Tài Nghiên Cứu Khoa Học Mầm Non, Mẫu Bìa Nghiên Cứu Khoa Học, Dàn ý Đề Tài Nghiên Cứu Khoa Học, Đề Tài Nghiên Cứu Khoa Học Là Gì, Đề Tài Nghiên Cứu Khoa Học, Nghiên Cứu Khoa Học, Mục Lục Đề Tài Nghiên Cứu Khoa Học, Nghiên Cứu Khoa Học Mua Sắm, Dàn Bài Nghiên Cứu Khoa Học, Báo Cáo Nghiên Cứu Khoa Học, Dàn ý 1 Bài Nghiên Cứu Khoa Học, Mẫu Báo Cáo Nghiên Cứu Khoa Học, Gợi ý Đề Tài Nghiên Cứu Khoa Học, Bài Tóm Tắt Nghiên Cứu Khoa Học, 1 Đề Tài Nghiên Cứu Khoa Học, Mẫu Tóm Tắt Đề Tài Nghiên Cứu Khoa Học, Tên 1 Đề Tài Nghiên Cứu Khoa Học, 1 Số Đề Tài Nghiên Cứu Khoa Học Hay, 1 Đề Tài Nghiên Cứu Khoa Học Mẫu, Báo Cáo Kết Quả Nghiên Cứu Khoa Học, Nghiên Cứu Về Khoa Sản, Mẫu Powerpoint Nghiên Cứu Khoa Học, Nghien Cứu Khoa Học ứng Dụng, Đề Cương Nghiên Cứu Khoa Học Là Gì, Bài Luận Văn Nghiên Cứu Khoa Học, Luận Văn Nghiên Cứu Khoa Học, Kế Hoạch Nghiên Cứu Khoa Học, Mẫu Luận Văn Nghiên Cứu Khoa Học, Đề Tài Nghiên Cứu Khoa Học Môn Tiếng Anh, Đề Cương Nghiên Cứu Khoa Học Y Học, Nghiên Cứu Khoa Học Trong Y Học, Đề Tài Nghiên Cứu Khoa Học Cấp Trường, 1 Số Đề Tài Nghiên Cứu Khoa Học Giáo Dục, Luận án Nghiên Cứu Khoa Học, Lập 1 Đề Cương Nghiên Cứu Khoa Học, Đề Cương Nghiên Cứu Khoa Học, Đề Tài Nghiên Cứu Khoa Học Giáo Dục, Dự Toán Đề Tài Nghiên Cứu Khoa Học, Quy Trình Nghiên Cứu Khoa Học, Báo Cáo Tổng Kết Và Báo Cáo Tóm Tắt Đề Tài Nghiên Cứu Khoa Học, Cách Làm 1 Đề Tài Nghiên Cứu Khoa Học, Dàn ý Đề Cương Nghiên Cứu Khoa Học, Đạo Đức Trong Nghiên Cứu Khoa Học, Tài Liệu Nghiên Cứu Khoa Học, Mẫu Đơn Đăng Ký Đề Tài Nghiên Cứu Khoa Học, Bài Luận Nghiên Cứu Khoa Học, ý Tưởng Đề Tài Nghiên Cứu Khoa Học, Đề Cương Đề Tài Nghiên Cứu Khoa Học, Bản Nhận Xét Đề Tài Nghiên Cứu Khoa Học, Mẫu Chuyên Đề Nghiên Cứu Khoa Học, Xây Dựng 1 Đề Cương Nghiên Cứu Khoa Học, Đề Trac Nhiem Môn Nghien Cuu Khoa Học, Tham Luận Nghiên Cứu Khoa Học, Tham Khảo Các Đề Tài Nghiên Cứu Khoa Học, Tìm Kiếm Tài Liệu Nghiên Cứu Khoa Học, Vai Trò Của Nghiên Cứu Khoa Học Đối Với Sinh Viên,

    ý Nghĩa Khái Niệm Nghiên Cứu Khoa Học Cơ Bản, Khái Niệm Nghiên Cứu Khoa Học, ý Nghĩa Khái Niệm Khoa Học Cơ Bản, ý Nghĩa Khái Niệm Khoa Học, ý Nghĩa Đề Tài Nghiên Cứu Khoa Học, ý Nghĩa Của Đề Cương Nghiên Cứu Khoa Học, Quan Niệm Khoa Học Nghiên Cứu Về Hành Vi Coi Xung Đột Trong Tổ Chức Là, ý Nghĩa Khái Niệm Vận Tốc, ý Nghĩa Khái Niệm, Khái Niệm Chủ Nghĩa Xã Hội, Khái Niệm Xã Hội Chủ Nghĩa, Từ Khái Niệm Có Nghĩa Là Gì, Khái Niệm Đền ơn Đáp Nghĩa, Khái Niệm Nhân Nghĩa, ý Nghĩa Khái Niệm Tội Phạm, Khái Niệm Chủ Nghĩa Mác Lênin, Khái Niệm Chủ Nghĩa Mác Lênin Là Gì, Định Nghĩa Khái Niệm, Định Nghĩa Khái Niệm Là Gì, ý Nghĩa Khái Niệm Vật Chất, ý Nghĩa Khái Niệm Tư Tưởng Hồ Chí Minh, ý Nghĩa Khái Niệm Tròn Và Vuông, ý Nghĩa Khái Niệm Thời Gian, Từ Khái Niệm Trong Tiếng Anh Nghĩa Là Gì, ý Nghĩa Khái Niệm Ngân Sách Nhà Nước, Khái Niệm Khoa Học, Khái Niệm Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa, Khái Niệm Khóa Chính, Khái Niệm ăn Uống Có Khoa Học, Khái Niệm Nào Được Định Nghĩa Giống Như Cường Độ Hay Độ Tinh Khiết Của M, Kế Hoạch Triển Khai Công Tác Nghiên Cứu Khoa Học Và Công Nghệ, Khái Niệm Cấu Trúc Đặc Điểm Và Yêu Cầu Về Phong Cách Làm Việc Khoa Học Của Người Giáo Viên Mầm Non, ý Nghĩa Của Việc Nghiên Cứu Chủ Nghĩa Mác Lênin, Nghiên Cứu Chiết Xuất Và Bào Chê Viên Giảo Cổ Lam (khoá Luận Tốt Nghiệp Dược Sĩ Khoá 2002 – 2007, Quan Niệm Của Chủ Nghĩa Duy Tâm Và Chủ Nghĩa Duy Vật Trước Mác Về Vật Chất Có Những Hạn Chế Nào, Quan Niệm Của Chủ Nghĩa Duy Tâm Và Chủ Nghĩa Duy Vật Trước Mác Về Phạm Trù Vật Chất, ý Nghĩa Của Việc Nghiên Cứu Chủ Nghĩa Mác, ý Nghĩa Đề Tài Nghiên Cứu, Quan Niệm Khác Nhau Về Đối Tượng Nghiên Cứu Của Kinh Tế Chính Trị, Quan Niệm Khác Nhau Về Đối Tượng Nghiên Cứu Của Kinh Tế Chính Trị Không Thay Đổi, Nghiên Cứu Mô Hình Z-score Trong Đánh Giá Rủi Ro Tài Chính Của Các Doanh Nghiệp Niêm Yết Trên Thị Tr, Lịch Sử Nghiên Cứu Vấn Đề Về Lãnh Đạo Cả Nước Xây Dựng Và Bảo Vệ Chủ Nghĩa Xẫ Hội, Đề Tài Nghiên Cứu Khoa Học Cấp Cơ Sở, Mẫu Bìa Đề Tài Nghiên Cứu Khoa Học, Đề Tài Nghiên Cứu Khoa Học Mầm Non, Mẫu Bìa Nghiên Cứu Khoa Học, Dàn ý Đề Tài Nghiên Cứu Khoa Học, Đề Tài Nghiên Cứu Khoa Học Là Gì, Đề Tài Nghiên Cứu Khoa Học, Nghiên Cứu Khoa Học,

    --- Bài cũ hơn ---

  • Câu Chuyện Thương Hiệu Phía Sau Logo Đại Học Kinh Tế
  • Logo Bách Khoa Hà Nội Và Tp.hcm
  • Ý Nghĩa Lịch Sử Của Ngày Khoa Học Và Công Nghệ Việt Nam Và Hoạt Động Chào Mừng Ngày 18/5/2018
  • Học Thuyết Giá Trị Thăng Dư Của Chủ Nghĩa Mác
  • Học Thuyết Giá Trị Thặng Dư Của Marx Và Sự Phát Triển Nền Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa Ở Việt Nam
  • Các Định Nghĩa Và Khái Niệm Về Nghiên Cứu Khoa Học ✔Trường Đại Học Bình Dương ✔Giáo Dục Mở ✔Xét Tuyển Đại Học

    --- Bài mới hơn ---

  • Nghiên Cứu Khoa Học Là Gì ?
  • Kế Toán Kép Là Gì Và Ý Nghĩa Của Các Tài Khoản Kế Toán?
  • Phương Pháp Ghi Sổ Kép
  • Luật So Sánh Là Một Môn Khoa Học
  • Phật Giáo Và Khoa Học
  • 1. Khoa học (science):

    Theo từ điển Bách Khoa toàn thư Wikipedia định nghĩa: Khoa học (tiếng Anh: science) là toàn bộ hoạt động có hệ thống nhằm xây dựng và tổ chức kiến thức dưới hình thức những lời giải thích và tiên đoán có thể kiểm tra được về vũ trụ. Thông qua các phương pháp kiểm soát, nhà khoa học sử dụng cách quan sát các dấu hiệu biểu hiện mang tính vật chất và bất thường của tự nhiên nhằm thu thập thông tin, rồi sắp xếp các thông tin đó thành dữ liệu để phân tích nhằm giải thích cách thức hoạt động, tồn tại của sự vật hiện tượng. Một trong những cách thức đó là phương pháp thử nghiệm nhằm mô phỏng hiện tượng tự nhiên dưới điều kiện kiểm soát được và các ý tưởng thử nghiệm. Tri thức trong khoa học là toàn bộ lượng thông tinmà các nghiên cứu đã tích lũy được. Định nghĩa về khoa học được chấp nhận phổ biến rằng khoa học là tri thứctích cực đã được hệ thống hóa.

    Theo Luật Khoa học và Công nghệ (Quốc hội, 2013), khoa học là hệ thống tri thức về bản chất, quy luật tồn tại và phát triển của sự vật, hiện tượng tự nhiên, xã hội và tư duy.

    Theo Từ điển Giáo dục, Khoa học là lĩnh vực hoạt động của con người nhằm tạo ra và hệ thống hóa những tri thức khách quan về thực tiễn, là một trong những hình thái ý thức xã hội bao gồm cả hoạt động để thu hái kiến thức mới lẫn cả kết quả của hoạt động ấy, tức là toàn bộ những tri thức khách quan làm nên nền tảng của một bức tranh về thế giới. Từ khoa học cũng còn dùng để chỉ những lĩnh vực tri thức chuyên ngành. Những mục đích trực tiếp của khoa học là miêu tả, giải thích và dự báo các quá trình và các hiện tượng của thực tiễn dựa trên cơ sở những quy luật mà nó khám phá được.

    Sheldon (1997) cho rằng khoa học là một hoạt động trí tuệ được thực hiện bởi con người, được thiết kế để khám phá cách thức hoạt động, tồn tại của sự vật – hiện tưởng.

    Theo Vũ Cao Đàm khoa học còn được hiểu là một hoạt động xã hội nhằm tìm tòi, phát hiện quy luật của sự vật và hiện tượng và vận dụng các quy luật ấy để sáng tạo ra nguyên lý các giải pháp tác động vào sự vật hoặc hiện tượng, nhằm biến đổi trạng thái của chúng.

    2. Nghiên cứu khoa học (scientific research):

    Theo Luật Khoa học và Công nghệ (Quốc hội, 2013), Nghiên cứu khoa học là hoạt động khám phá, phát hiện, tìm hiểu bản chất, quy luật của sự vật, hiện tượng tự nhiên, xã hội và tư duy; sáng tạo giải pháp nhằm ứng dụng vào thực tiễn.

    Nghiên cứu cơ bản là hoạt động nghiên cứu nhằm khám phá bản chất, quy luật của sự vật, hiện tượng tự nhiên, xã hội và tư duy.

     Nghiên cứu ứng dụng là hoạt động nghiên cứu vận dụng kết quả nghiên cứu khoa học nhằm tạo ra công nghệ mới, đổi mới công nghệ phục vụ lợi ích của con người và xã hội.

    Theo Earl R. Babbie (1986), nghiên cứu khoa học (scientific research) là cách thức: (1) Con người tìm hiểu các hiện tượng khoa học một cách có hệ thống; và (2) Là quá trình áp dụng các ý tưởng, nguyên lý để tìm ra các kiến thức mới nhằm giải thích cá sự vật hiện tượng.

    Như vậy, nghiên cứu khoa học là hoạt động tìm hiểu, xem xét, điều tra hoặc thử nghiệm, dựa trên những số liệu, tài liệu, kiến thức đạt được từ thực nghiệm, để phát hiện ra cái mới về bản chất sự vật, về thế tự nhiên và xã hội.

    3. Phương pháp khoa học (scientific method):

    Theo Bauer (1992), phương pháp khoa học (scientific method) là một hệ thống kỹ thuật nhằm nghiên cứu các hiện tượng, mục đích là để thu được kiến thức mới, hoặc hoàn chỉnh và kế thừa các kiến thức có trước đó.

    Theo Beveridge (1950) nhấn mạnh hơn về khía cạnh khoa học là: Để được coi là khoa học, phương pháp điều tra phải được dựa trên việc thu chứng cứ thực nghiệm hoặc chứng cứ đo lường được, tuân thủ theo những nguyên tắc lý luận cụ thể.

    Từ điển Oxford định nghĩa phương pháp khoa học là một phương pháp của khoa học tự nhiên từ thế kỉ XVII, bao gồm quan sát có hệ thống, đo lường, thực nghiệm, xây dựng, kiểm định và điều chỉnh các lý thuyết.

    4. Vai trò của Nghiên cứu khoa học:

    Trong điều kiện của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật ngày nay, khoa học đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong việc tạo ra cơ sở vật chất của xã hội, hoàn thiện các quan hệ xã hội và hình thành con người mới.

    Nghiên cứu khoa học có mục tiêu chủ yếu là tìm kiếm câu trả lời cho các câu hỏi đặt ra, nói cách khác là tìm kiếm kiến thức và sự hiểu biết. Tuy nhiên, nếu ta có thể chia xẻ, phổ biến thông tin, kiến thức mà ta có được thông qua nghiên cứu sẽ có hiệu quả cao hơn rất nhiều. Nói cách khác, bản chất của nghiên cứu khoa học là một quá trình vận dụng các ý tưởng, nguyên lý và phương pháp khoa học để tìm ra các kiến thức mới nhằm mô tả, giải thích hay dự báo các sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan. Nghiên cứu có nghĩa là trả lời những câu hỏi mang tính học thuật hoặc thực tiễn; làm hoàn thiện và phong phú thêm các tri thức khoa học; đưa ra các câu trả lời để giải quyết các vấn đề trong thực tiễn.

    Với cách nhìn như vậy, nghiên cứu khoa học còn có vai trò làm thay đổi cách nhìn nhận vấn đề của người đọc, thuyết phục người đọc tin vào bản chất khoa học và kết quả thực nghiệm nhằm đưa người đọc đến quyết định và hành động phù hợp để cải thiện tình hình của các vấn đề đặt ra theo chiều hướng tốt hơn.

    Phòng Quản lý khoa học

    --- Bài cũ hơn ---

  • Ý Nghĩa Logo Bách Khoa
  • Chào Mừng Ngày Khoa Học & Công Nghệ 18
  • Lễ Kỷ Niệm Ngày Khoa Học Và Công Nghệ Việt Nam
  • Hội Thảo Phương Pháp Luận Đề Tài: “Nghiên Cứu Xác Định Mức Độ Nhiễm Etylbenzen Qua Sản Phẩm Chuyển Hóa Axit Phenylglyoxylic Trong Nước Tiểu Ở Người Lao Động Có Tiếp Xúc”
  • Làm Rõ Ý Nghĩa Học Thuyết Giá Trị Thặng Dư Trong Bài: Những Vấn Đề Cơ Bản Của Phương Thức Sản Xuất Tư Bản Chủ Nghĩa Ở Phần I.1
  • Nghiên Cứu Khoa Học Là Gì ?

    --- Bài mới hơn ---

  • Kế Toán Kép Là Gì Và Ý Nghĩa Của Các Tài Khoản Kế Toán?
  • Phương Pháp Ghi Sổ Kép
  • Luật So Sánh Là Một Môn Khoa Học
  • Phật Giáo Và Khoa Học
  • Cảm Nhận Đôi Điều Về Phật Pháp Và Khoa Học
  • Góc NCKH

    Nghiên cứu khoa học là gì ?

    NGHIÊN CỨU KHOA HỌC LÀ GÌ?

     

    1. Khái niệm 

    NCKH là một hoạt động xã hội, hướng vào việc tìm kiếm những điều mà khoa học chưa biết: hoặc là phát hiện bản chất sự vật, phát triển nhận thức khoa học về thế giới; hoặc là sáng tạo phương pháp mới và phương tiện kĩ thuật mới để cải tạo thế giới.

    2. Phân loại

    Có nhiều cách phân loại NCKH. Trong bài viết này, YRC sẽ đề cập 2 cách phân loại thường gặp: theo chức năng nghiên cứu và theo tính chất của sản phẩm nghiên cứu

    a. Theo chức năng nghiên cứu:

    • Nghiên cứu mô tả (Descriptive research):

       nhằm đưa ra một hệ thống tri thức giúp con người phân biệt các sự vật, hiện tượng xung quanh; bao gồm mô tả định tính và mô tả định lượng, mô tả một sự vật, hiện tượng riêng lẻ hoặc so sánh giữa nhiều sự vật, hiện tượng khác nhau.

    • Nghiên cứu giải thích (Explanatory research):

       nhằm làm rõ các qui luật chi phối các hiện tượng, các quá trình vận động của sự vật.

    • Nghiên cứu dự báo (Anticipatory research):

       nhằm chỉ ra xu hướng vận động của các hiện tượng, sự vật trong tương lai  

    • Nghiên cứu sáng tạo (Creative research):

       nhằm tạo ra các qui luật, sự vật mới hoàn toàn

    b. Theo tính chất của sản phẩm nghiên cứu:

    Nghiên cứu cơ bản (Fundamental research): các nghiên cứu nhằm phát hiện thuộc tính, cấu trúc bên trong của các sự vật, hiện tượng.

    • Nghiên cứu ứng dụng (Applied research):

       vận dụng thành tựu của các nghiên cứu cơ bản để giải thích sự vật, hiện tượng; tạo ra các giải pháp, qui trình công nghệ, sản phẩm để áp dụng vào đời sống và sản xuất. 

    • Nghiên cứu triển khai (Implementation research):

       vận dụng các nghiên cứu cơ bản và ứng dụng để tổ chức triển khai, thực hiện ở qui mô thử nghiệm

    3. Các khái niệm cơ bản của nghiên cứu khoa học

    a. Đề tài nghiên cứu (research project):

    Là một hình thức tổ chức NCKH do một người hoặc một nhóm người thực hiện để trả lời những câu hỏi mang tính học thuật hoặc ứng dụng vào thực tế. Mỗi đề tài nghiên cứu có tên đề tài (research title), là phát biểu ngắn gọn và khái quát về các mục tiêu nghiên cứu của đề tài.

    b. Nhiệm vụ nghiên cứu (research topic): 

    Là những nội dung được đặt ra để nghiên cứu trên cơ sở tên đề tài nghiên cứu đã được xác định.

    c. Đối tượng nghiên cứu (research focus): 

    Là bản chất cốt lõi của sự vật hay hiện tượng cần xem xét và làm rõ trong đề tài nghiên cứu.

    d. Mục tiêu và mục đích nghiên cứu:

    • Mục tiêu nghiên cứu (research objective): những nội dung cần được xem xét và làm rõ trong khuôn khổ đối tượng nghiên cứu đã xác định nhằm trả lời câu hỏi “Nghiên cứu cái gì?”. Dựa trên mục tiêu, các câu hỏi nghiên cứu được xây dựng.

    • Mục đich nghiên cứu (research purpose): ý nghĩa thực tiễn của nghiên cứu. Mục đích trả lời câu hỏi “ Nghiên cứu nhằm vào việc gì?” hoặc “ Nghiên cứu để phục vụ cho cái gì?”

    e. Khách thể nghiên cứu (research population): 

    Là sự vật chứa đựng đối tượng nghiên cứu. Khách thể nghiên cứu có thể là một không gian vật lý, một quá trình, một hoạt động, hoặc một cộng đồng.

    f. Đối tượng khảo sát (research sample):

    Là mẫu đại diện của khách thể nghiên cứu

    g. Phạm vi nghiên cứu (research scope):

    Là sự giới hạn về đối tượng nghiên cứu, đối tượng khảo sát và thời gian nghiên cứu (do những hạn chế mang tính khách quan và chủ quan đối với đề tài và người làm đề tài)

     

     

    1. Vũ Cao Đàm. (1999) 

      Phương pháp luận nghiên cứu khoa học

      . NXB Khoa học và Kĩ thuật, tr.20.

    2. Lê Văn Hảo. (2015) 

      Phương pháp nghiên cứu khoa học. 

      Trường Đại học Nha Trang.

     Nguồn : http://yrc-ftu.com

    --- Bài cũ hơn ---

  • Các Định Nghĩa Và Khái Niệm Về Nghiên Cứu Khoa Học ✔Trường Đại Học Bình Dương ✔Giáo Dục Mở ✔Xét Tuyển Đại Học
  • Ý Nghĩa Logo Bách Khoa
  • Chào Mừng Ngày Khoa Học & Công Nghệ 18
  • Lễ Kỷ Niệm Ngày Khoa Học Và Công Nghệ Việt Nam
  • Hội Thảo Phương Pháp Luận Đề Tài: “Nghiên Cứu Xác Định Mức Độ Nhiễm Etylbenzen Qua Sản Phẩm Chuyển Hóa Axit Phenylglyoxylic Trong Nước Tiểu Ở Người Lao Động Có Tiếp Xúc”
  • Viết Đề Cương Nghiên Cứu Khoa Học

    --- Bài mới hơn ---

  • Viện Khoa Học & Công Nghệ Môi Trường
  • Ý Nghĩa Ngày Nay Của Học Thuyết Về Giá Trị Thặng Dư Của C. Mác
  • Ý Nghĩa Lịch Sử Ngày Khoa Học Và Công Nghệ Việt Nam 18 Tháng 5
  • Ý Nghĩa Lịch Sử Của Ngày 18/5
  • Lịch Sử Và Ý Nghĩa Của Ngày Khoa Học Và Công Nghệ Việt Nam
  • (Trích từ cuốn “Phương pháp Nghiên cứu khoa học”

    Tác giả: Nguyễn Đăng Bình và Nguyễn Văn Dự

    Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật Hà Nội, 2010

    Đề cương nghiên cứu (Research Proposal) là một tài liệu khoa học được công bố ở giai đoạn khởi đầu của một nghiên cứu. Với các đề tài nghiên cứu khoa học của sinh viên, luận văn tốt nghiệp của học viên cao học hay luận án của nghiên cứu sinh, đề cương nghiên cứu có vai trò như một báo cáo xin phép được triển khai nghiên cứu.

    1. Mục đích, chức năng của đề cương

    Một đề cương nghiên cứu có mục đích cơ bản là nhằm thuyết phục người đọc rằng, tác giả có một đề xuất nghiên cứu đáng giá (so với yêu cầu của cấp độ nghiên cứu đang đưa ra), có tính cạnh tranh và có một kế hoạch bài bản để đảm bảo hoàn thành nghiên cứu. Do vậy, một đề cương nghiên cứu cần bao gồm các yếu tố cần thiết để người đọc có thể đánh giá đề xuất nghiên cứu được trình bày. Các yếu tố này nhằm trả lời cho các câu hỏi: Vấn đề nghiên cứu là gì? Kế hoạch nghiên cứu ra sao? Tại sao cần tiến hành như vậy? Làm thế nào để thực hiện kế hoạch đó?

    Các lý do căn bản để người làm nghiên cứu cần và nên viết đề cương nghiên cứu bao gồm:

    Vì những lý do trên, các tổ chức quản lý hay cấp phép nghiên cứu luôn yêu cầu người dự định triển khai nghiên cứu phải làm đề cương.

    Một đề cương nghiên cứu có ba chức năng chính (theo Locke et al. 1993, tr. 3-5), bao gồm:

    Hãy lưu ý rằng, bất kỳ đề cương nghiên cứu nào cũng bao gồm các kế hoạch dự định làm, các kết quả mong muốn sẽ đạt được. Vì vậy, người viết phải trình bày sao cho những người đọc thấy những dự định, đề xuất không quá đơn giản, nhưng cũng không viển vông.

    2. Cấu trúc của đề cương

    Mỗi quốc gia, cơ sở nghiên cứu, cơ sở đào tạo thường có những quy định khá cụ thể về đề cương nghiên cứu. Các quy định này có thể có các yêu cầu chi tiết khác nhau, nhưng nói chung, các đề cương nghiên cứu thường cần có các phần cơ bản sau đây:

    – Tiêu đề: tên của nghiên cứu; tên tác giả;

    – Giới thiệu

    – Mục tiêu của nghiên cứu

    – Dự kiến các kết quả đạt được

    – Phương pháp và phương pháp luận

    – Các công cụ, thiết bị cần thiết cho nghiên cứu

    – Kế hoạch thực hiện

    Tiêu đề. Nguyên tắc chung để đặt tiêu đề (tên nghiên cứu) là cần chắc chắn về những gì dự định làm, vấn đề gì cần nghiên cứu để giải quyết. Tiêu đề phải bao gồm những từ chuyên môn thông dụng của lĩnh vực nghiên cứu, mô tả được công việc dự định thực hiện. Tiêu đề cần súc tích, ngắn gọn, tránh những cụm từ chung chung như “một nghiên cứu về…”, “một khảo sát về…” v.v… Trong kỹ thuật, nên sử dụng các cụm từ mô trả quan hệ chức năng, bởi chúng phản ánh một cách rõ ràng các biến độc lập và phụ thuộc. Tiêu đề nên chứa những từ khóa chính phản ảnh vấn đề và hướng giải quyết để sau này, người đọc có thể dễ dàng tìm thấy đề tài trong các kho lưu trữ. Những từ này cần được chọn sao cho chúng mô tả chính xác các yếu tố (các biến nghiên cứu) chính, dạng nghiên cứu và mục đích của nghiên cứu.

    Lưu ý rằng, tổng quan tài liệu trong đề cương có ý nghĩa làm nổi bật vai trò, vị trí của nghiên cứu mới (có đóng góp gì thêm, đề xuất cách tiếp cận mới… so với các nghiên cứu đã có). Vì vậy, nếu có nhiều thông tin tham khảo cần trích dẫn, mới nên tách thông tin tổng quan thành một mục nhỏ. Nói chung, chỉ nên trình bày thông tin tổng quan trong phần giới thiệu như là cơ sở đề xuất vấn đề nghiên cứu.

    Mục tiêu của nghiên cứu. Phần này trình bày mục tiêu chung và các mục tiêu cụ thể mà nghiên cứu nhắm đến. Các mục tiêu nên dùng động từ hành động để chỉ rõ nghiên cứu dự định làm gì. Cần trình bày được thông số sẽ dùng để đánh giá mục tiêu. Mục tiêu chung được trình bày trước. Sau đó, các mục tiêu cụ thể để đạt được mục tiêu chính sẽ được trình bày sau. Các mục tiêu cụ thể nên được trình bày ngắn gọn, mỗi mục tiêu một dòng và được đánh số thứ tự.

    Ví dụ:

    Đề tài này đặt mục tiêu chính là qua phân tích động lực học của cơ cấu RLC, cải thiện được hiệu năng của cơ cấu. Hiệu năng được đánh giá qua khả năng hệ thống thắng được lực cản ma sát lớn hơn, cho tốc độ di chuyển lớn hơn so với cơ cấu cũ.

    Các mục tiêu cụ thể là:

    đặc tính động lực học của cơ cấu RLC 07 để tìm ra khả năng tiếp tục cải tiến cơ cấu này;

    2. Thiết kế, chế tạo hệ thống cơ cấu cải tiến để tiến hành thí nghiệm khảo sát và so sánh hiệu năng với cơ cấu cũ;

    3. Tiến hành thí nghiệm để phân tích, đánh giá các đặc tính động lực học chính của cơ hệ mới nhằm tiếp tục phát triển, hoàn thiện và hiện thực hóa ứng dụng của nó;

    Kết quả dự kiến. Phần này trình bày các kết quả nghiên cứu dự kiến sẽ đạt được. Các kết quả này được cụ thể hóa từ các mục tiêu cụ thể của nghiên cứu đã trình bày ở phần trước. Các kết quả dự kiến đạt được cần bám sát theo từng mục tiêu đã đặt ra. Kết quả có thể được mô tả bằng danh từ chỉ sản phẩm đạt được hoặc động từ chỉ hành động sẽ được thực hiện.

    Ví dụ:

    1. Phân tích và khai thác được đặc tính động lực học của cơ hệ để xây dựng được mô hình cơ cấu rung mới;

    2. Thiết kế, chế tạo và vận hành thành công cơ cấu rung va đập mới;

    3. Thiết kế và thực thi được các bộ thí nghiệm khẳng định ưu việt của mô hình mới; Các kết quả thí nghiệm sẽ được phân tích, so sánh với mô hình cũ…

    Phương pháp và phương pháp luận. Trong phần này, nên trình bày các phương pháp thu thập và xử lý dữ liệu cơ bản. Đừng quá băn khoăn về thuật ngữ “phương pháp luận” ở đây. Có thể hiểu “Phương pháp luận” là một kế hoạch triển khai các công cụ cần thiết để thực hiện nghiên cứu này. Cũng nên và cần giải thích tại sao lại sử dụng các công cụ đó.

    Trước hết, hãy xem xét vấn đề nghiên cứu có thể giải quyết bằng cách tiếp cận nào: định tính hay định lượng. Hầu hết các nghiên cứu trong kỹ thuật thường sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng. Nghiên cứu định lượng thường được chia nhỏ thành các cách tiếp cận: Nghiên cứu suy luận (inferential), nghiên cứu thí nghiệm/ thực nghiệm (Experimental) và nghiên cứu mô phỏng (Simulation). Hãy xem lại chương một của tài liệu này để xác định rõ, nghiên cứu của bạn thuộc loại nào.

    Thứ hai, cần tránh lạm dụng thuật ngữ “Kết hợp nghiên cứu lý thuyết với nghiên cứu thực nghiệm…”. Hãy lưu ý rằng, việc tìm hiểu và nắm vững lý thuyết cơ bản để hiểu rõ vấn đề và cách thức tiến hành nghiên cứu thì không được gọi là nghiên cứu. Trong các thuật ngữ, cũng không có khái niệm “nghiên cứu lý thuyết” mà chỉ có dạng nghiên cứu cơ bản (Basic research) hay nghiên cứu thuần túy (Pure research).

    Các ý chính cần trình bày về phương pháp nghiên cứu bao gồm:

    – Mô tả các hoạt động cụ thể để đạt được từng mục tiêu như đã trình bày ở phần “Mục tiêu nghiên cứu”;

    – Làm cho người đọc thấy rõ, nghiên cứu cần thực hiện các phương pháp nào để thu thập dữ liệu. Cần trình bày rõ, dữ liệu nghiên cứu được đo định lượng từ các thí nghiệm, hay khảo sát đánh giá ý kiến, phiếu khảo sát…

    – Nêu rõ phương pháp dự định dùng để xử lý dữ liệu thí nghiệm;

    – Lý giải tại sao chọn phương pháp này mà không chọn các phương pháp khác.

    Các công cụ, thiết bị nghiên cứu. Phần này trình bày các công cụ, các thiết bị cần thiết để thực hiện các phương pháp nghiên cứu đã nêu. Với các thiết bị đo, nếu có thể, nên nêu yêu cầu về độ chính xác, thang đo, độ phân giải… Cũng cần nêu rõ, thiết bị đã sẵn có hay chờ mua sau khi nghiên cứu được duyệt. Các giải thích này sẽ cung cấp các thông tin cần thiết để những người đọc, người đánh giá đề cương có thể góp ý cho tác giả về cách chọn thiết bị hay tư vấn thêm.

    Kế hoạch thực hiện. Căn cứ vào khối lượng nghiên cứu đã dự kiến và khung thời gian đã định, tác giả cần đề xuất kế hoạch thực hiện từng nội dung này. Cần lưu tâm không những thứ tự các bước tiến hành (bước nào cung cấp dữ liệu, công cụ cho bước nào), mà còn quỹ thời gian được cân đối cho khối lượng công việc của từng bước. Nên nêu rõ kết quả cần đạt được của mỗi bước.

    Tài liệu tham khảo. Chỉ được liệt kê các tài liệu đã trích dẫn trong đề cương. Nói chung, cần tránh sử dụng tài liệu tham khảo là các sách giáo khoa, giáo trình trừ khi bắt buộc phải lấy thông tin từ đó. Số lượng tài liệu tham khảo cho một đề cương cao học nên ít nhất là 10. Số lượng quá ít dẫn đến người đánh giá có thể cho rằng, hoặc tác giả không biết nghiên cứu của mình có mới không, có đóng góp gì cho kiến thức đã có không, hoặc không có ai quan tâm đến lĩnh vực này. Dù là lý do nào, cũng dẫn đến đánh giá cho rằng đề xuất nêu lên của đề cương là không đáng quan tâm nghiên cứu.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Ý Nghĩa Của Ngày Khoa Học Và Công Nghệ Việt Nam 18
  • Ý Nghĩa Của Ngày Khoa Học
  • Bí Quyết Treo Chuông Gió Giúp Xua Đuổi Mọi Tà Khí
  • Phong Thủy Việt: Chuông Gió Phong Thủy: Tất Tần Tật Những Điều Bạn Cần Biết Để Nghênh Cát Khí, Đón Quý Nhân Khi Sử Dụng
  • Chuông Gió Trang Trí Lông Vũ Ht Sys Dreamcatcher
  • Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học Là Gì

    --- Bài mới hơn ---

  • Phương Sai (Variance) Là Gì? Công Thức Tính Phương Sai
  • Tên Nguyễn Phương Thảo Ý Nghĩa Gì, Tốt Hay Xấu?
  • Hệ Số Công Suất Là Gì? Nâng Cao Hệ Số Công Suất Có Ý Nghĩa Gì?
  • Tên Nguyễn Phương Vy Ý Nghĩa Gì, Tốt Hay Xấu?
  • Tên Nguyễn Ngọc Phương Vy Ý Nghĩa Gì, Tốt Hay Xấu?
  • Việc làm Giáo dục – Đào tạo

    1. Đặc điểm của nghiên cứu khoa học

    1.1. Nghiên cứu khoa học là gì?

    Nghiên cứu khoa học hay tiếng Anh gọi là Scientific Research là quá trình áp dụng các phương pháp nghiên cứu từ những người nghiên cứu có trình độ chuyên môn nhằm tìm ra kiến thức mới, những ứng dụng kỹ thuật có hiệu quả và những mô hình mới có ý nghĩa với thực tiễn. Hoạt động trong nghiên cứu khoa học là đi tìm hiểu, quan sát, thí nghiệm và đôi khi phải trải nghiệm thử,… dựa trên cơ sở những già đã thu thập được về số liệu, tài liệu,…

    Từ đó có thể rút ra khái niệm cụ thể của nghiên cứu khoa học chính là việc thực hiện tổng hợp hợp một chuỗi các phương pháp để nghiên cứu tìm ra quy luật mới, khái niệm mới, hiện tượng mới,… đã được chứng minh trong quá trình nghiên cứu thông qua khảo sát thực tế hay qua những số liệu, tài liệu đã được thu thập.

    Việc tiến hành nghiên cứu những công trình khoa học lớn cần nhiều thời gian công sức về cả người và của nhưng một khi đã thành công, kết quả từ quá trình nghiên cứu này rất có ý nghĩa trong thực tiễn phục vụ nhu cầu cho chính con người hay còn là yếu tố tác động chính tới sự phát triển của xã hội.

    1.2. Nghiên cứu khoa học cần tới con người sở hữu tố chất nào?

    Nằm trong vấn đề cần nghiên cứu – công việc cần tới sự sáng tạo và có hệ thống được thực hiện để tăng kho kiến thức, bao gồm kiến thức về con người, văn hóa – xã hội và việc sử dụng kho kiến thức này để đưa ra ứng dụng mới. Vì vậy những người đạt trình độ nghiên cứu cần có:

    – Kiến thức về lĩnh vực nghiên cứu: Đây sẽ là yêu cầu trước tiên để có đạt điều kiện tham gia nghiên cứu khoa học. Chỉ khi am hiểu về lĩnh vực trong đề tài nghiên cứu các hoạt động đem tới kết quả mới đi đúng hướng.

    – Có tình thần đam mê, nhiệt huyết, thích khám phá tìm kiếm cái mới trong cuộc sống

    – Nhận định về khoa học khách quan và trung thực nhất

    – Có kỹ năng làm việc tập thể hoặc độc lập có phương pháp cụ thể: Nghiên cứu khoa học cần nghiên cứu rất nhiều vấn đề xung quanh một đề tài chính vì vậy hoạt động này thường sẽ được triển khai theo nhóm hoặc nếu có năng lực cao vẫn có thể làm việc cá nhân. Tuy nhiên dù là làm cá nhân hay làm theo nhóm thì công việc nghiên cứu vẫn cần được triển khai theo đúng phương pháp.

    – Liên tục rèn luyện năng lực nghiên cứu từ lúc là sinh viên: Nhằm tạo điều kiện cho sinh viên tiếp cận với nghiên cứu khoa học nhiều trường đại học đã phát động cuộc thi nghiên cứu khoa học với đề tài chuyên môn tự chọn thu hút sự tham gia của không ít nhóm sinh viên. Họ đều là những người có niềm đam mê nghiên cứu, tinh thần ham học hỏi, thích khám phá những điều mới mẻ. Đặc biệt với nhiệt huyết của tuổi trẻ, đối tượng nghiên cứu này luôn hy vọng đem đến những điều mới mẻ chứng minh năng lực sau quá trình nghiên cứu với nhà trường tạo tiền đề cho nhiều công trình nghiên cứu lớn sau này cống hiến cho nền khoa học nước nhà.

    1.3. Ai là người nghiên cứu khoa học?

    – Các chuyên gia nghiên cứu ở mọi lĩnh vực làm việc trong Viện, Trung tâm nghiên cứu

    – Các giáo sư, giảng viên ở các trường Đại học – Cao đẳng, Trung học Chuyên nghiệp

    – Các chuyên gia trong cơ quan quản lý Nhà nước

    – Các Công ty, Viện nghiên cứu tư nhân

    – Sinh viên đam mê nghiên cứu khoa học trong các trường Đại học có tổ chức nghiên cứu hoặc tham gia nhóm nghiên cứu bên ngoài trường được tổ chức bởi một trung tâm,…

    1.4. Các hình thức tổ chức nghiên cứu

    – Đề tài nghiên cứu: Là một hình thức tổ chức nghiên cứu khoa học chứa đựng nhiệm vụ nghiên cứu cho một cá nhân hay một nhóm người thực hiện. Đây mà một nghiên cứu có mục tiêu cụ thể, phương pháp rõ ràng nội dung hướng tới đáp ứng yêu cầu của thực tiễn sản xuất hoặc dùng kết quả để xây dựng chính sách, là cơ sở nghiên cứu cho các đề tài tiếp theo.

    – Dự án khoa học nghiên cứu: Thường có vấn đề nghiên cứu thuộc lĩnh vực kinh tế, nhằm mục đích ứng dụng tăng hiệu quả kinh tế – xã hội. Trước tiên kết quả sẽ được sản xuất thử ở quy mô nhỏ nhằm hoàn thiện công nghệ mới, sản phẩm mới trước khi đưa vào sản xuất với quy mô lớn và đời sống

    – Chương trình khoa học nghiên cứu: Là tập hợp các đề tài/ dự án có cùng mục đích nghiên cứu cho ra kết quả áp dụng cùng cho một vấn đề. Các dự án/ đề tài được quản lý một các phối hợp nhằm hướng tới một số mục tiêu chung đã định ra từ trước.

    Việc làm Công chức – Viên chức

    2. Môn phương pháp nghiên cứu khoa học là gì?

    2.1. Khái niệm phương pháp nghiên cứu khoa học

    Phương pháp nghiên cứu khoa học là những công cụ hỗ trợ quá trình nghiên cứu khoa học giúp thu thập số liệu, dữ liệu, thông tin, kiến thức để phục vụ cho việc tìm ra điều mới mẻ,… Các phương pháp nghiên cứu khoa học mang tính hệ thống tức là phương pháp này phải đi liền với phương pháp khác theo một chuỗi nhất định đảm bảo tính thống nhất và khá dễ sử dụng.

    2.2. Các phương pháp nghiên cứu khoa học là gì?

    Một đề tài, dự án, chương trình hay một đề án được hoàn thành với rất nhiều các phương pháp nghiên cứu khoa học khác nhau được phân thành:

    – Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Là các phương pháp áp dụng trực tiếp vào vấn đề nghiên cứu trong thực tế để hiểu rõ bản chất và các quy luật của những vấn đề đó.

    + Phương pháp quan sát khoa học: Có hai loại quan sát khoa học là quan sát trực tiếp và gián tiếp hoặc phân thành quan sát theo thời gian và không gian. Đối với những nghiên cứu quy mô lớn nên chia thời gian nghiên cứu theo từng giai đoạn để thu thập được nguồn thông tin chính xác nhất, xác thực nhất với vấn đề nghiên cứu.

    + Phương pháp thực nghiệm khoa học: Áp dụng đối với một số vấn đề nghiên cứu cần tác động vào đối tượng để điều hướng chúng phát triển hay hoạt động theo mục tiêu dự kiến đã đặt ra

    + Phương pháp phân tích tổng kết kinh nghiệm: Là phương pháp nghiên cứu và xem xét lại những thành quả thực tiễn trong quá khứ để rút ra kết luận bổ ích cho thực tiễn và khoa học.

    + Phương pháp chuyên gia: Là phương pháp sử dụng trí tuệ của đội ngũ chuyên gia có trình độ phù hợp với chuyên môn nghiên cứu sâu rộng nhằm thu thập thông tin khoa học, ghi chép các nhận định đánh giá một sản phẩm khoa học làm cơ sở để bổ sung, chỉnh sửa cho vấn đề nghiên cứu. Với mỗi lĩnh vực cần nghiên cứu bạn phải chọn đúng chuyên gia có năng lực chuyên môn đó, có phẩm chất của người nghiên cứu khoa học.

    – Các phương nghiên cứu lý thuyết: Trên cơ sở dữ liệu, thông tin có sẵn tại các văn bản, tài liệu bằng các thao tác tư duy logic để rút ra kết luận khoa học cần thiết cho vấn đề nghiên cứu thông qua các phương pháp sau:

    + Phương pháp phân tích và tổng hợp lý thuyết: Phân tích thành từng bộ phận các tài liệu đề tìm hiểu sâu sắc về đối tượng rồi tổng hợp những thông tin đã được phân tích thành một hệ thống lý thuyết mới đầy đủ và bám sát hơn vào đối tượng nghiên cứu.

    + Phương pháp giả thuyết: Trước tiên nghiên cứu hay đưa ra quan điểm, giả thuyết về đặc điểm định nghĩa của vấn đề rồi sau đó đi chứng minh điều mình đưa ra là đúng, có cơ sở khoa học để minh chứng

    + Phương pháp lịch sử: Là phương pháp áp dụng để đi tìm nguồn gốc phát sinh, quá trình phát triển, hình thành đối tượng nghiên cứu dựa trên tài liệu đã được ghi chép rồi từ đó rút ra mấu chốt

    --- Bài cũ hơn ---

  • Kỹ Năng Lập Kế Hoạch: Khái Niệm, Ý Nghĩa, Phương Pháp.
  • Phương Pháp Luận Là Gì? Ý Nghĩa Nghiên Cứu Phương Pháp Luận
  • Tên Con Lê Nguyễn Nhật Phương Có Ý Nghĩa Là Gì
  • Tên Con Nguyễn Nhật Phương Có Ý Nghĩa Là Gì
  • Tên Con Trần Phương Minh Có Ý Nghĩa Là Gì
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100