【#1】Pr Là Gì? Pr Trên Facebook Ý Nghĩa Gì?

Bản chất của nghề PR là có thể làm tốt hơn hay tự thay đổi được những cái nhìn từ đối tượng khách hàng với một các nhân, sản phẩm và thậm chí là 1 công ty một cách tích cực nhất. Sau đó là phát thông tin đến các đơn vị truyền thông và thu hút sự chú ý của họ.

Đó là việc tìm kiếm xây dựng và phát triển tất cả các mối quan hệ giữa các cá nhân với nhau và với các đơn vị tổ chức như công ty, doanh nghiệp với toàn bộ cộng đồng.

PR là hoạt động cộng sinh, giúp cho cả hai bên cùng có lợi. PR bao gồm rất nhiều hoạt động như: quản trị báo chí truyền thông; xây dựng và phát triển thương hiệu cho đo vị doanh nghiệp, chăm sóc khách hàng và lấy ý kiến phản hồi từ khách hàng, PR nội bộ (thiết lập và duy trì những mối quan hệ đồng nghiệp, giữa các phòng ban; xây dựng văn hóa công sở), quan hệ đoàn thể và trách nhiệm xã hội, ứng phó và xử lý các khủng hoảng.

Những người làm PR thường xuyên sử dụng những công cụ như điện thoại và email để có thể liên lạc với các cá nhân, đơn vị tổ chức nhằm xây dựng, duy trì và quản lý danh tiếng của công ty. Phạm vi cho người PR là những cơ quan dịch vụ công cộng hoặc những doanh nghiệp và tổ chức tự nguyện.

Những công việc phải làm của một cán bộ PR là

4.Bật mí những bí quyết để có kế hoạch PR hoàn hảo

Bất kỳ một công việc gì cũng vậy, nếu có một kế hoạch PR hoàn hảo thì bạn sẽ được đi đúng hướng và có thể tận dụng được những thành quả đó.

Mục tiêu của chiến lược PR là phù hợp với mục tiêu và nhiệm vụ tổng thể của doanh nghiệp, tổ chức mà bạn đang làm.

Ví dụ mục tiêu quan hệ công chúng của kế hoạch lần 1 của công ty A chính là cải thiện hình ảnh công ty và tăng được số người theo dõi cũng như quan tâm về công ty qua các hoạt động, sự kiện mà đơn vị tự tổ chức.

Làm việc khi xác định được đối tượng mục tiêu chính là có kim chỉ nam để hoàn thành công việc một cách xuất sắc. Xác định rõ đối tượng cần truyền. Những khách hàng mua hàng tiềm năng chính là công chúng – những người sử dụng hiện thời, những người có thể quyết định và gây ảnh hưởng. Đối tượng mục tiêu của công chúng sẽ quyết định đến phương pháp truyền thông của người truyền thông đó chính là: cách nói chuyện, địa điểm nói chuyện và đặc biệt là thời điểm để trao đổi thông tin cho nhau.

Chiến thuật là thuật ngữ thường hay được sử dụng trong cách dụng binh. Chiến thuật PR chính là vũ khí để giúp bạn nhanh chóng đi tới đích mà chính bạn đã đặt ra. Bạn hay suy nghĩ và xem xét thật kỹ cách sử dụng nhân lực để có thể thực hiện các chiến lược của mình và luôn làm việc hướng tới các mục tiêu.

Để có thể thực hiện công tác PR tốt thì bạn phải có sự chuẩn bị về kinh tế hay quỹ ngân sách. Thứ nhất là có kế hoạch phân chia cụ thể từng quỹ ngân sách cho từng mảng phù hợp với mục tiêu và hiệu quả. Thứ hai là có thể chi trả các khoản như chi phí phục vụ cho các hoạt động truyền thông PR như thuê nhân viên, tiền đi lại, các thiết bị…

Một kế hoạch có thành công hay không chính là từ bước thực hiện kế hoạch hay còn gọi là kế hoạch hành động. Đây là bước thực hiện các hoạt động theo từng chiến thuật đã vạch ra trước đó để thực hiện các yêu cầu chiến lược. Các hoạt động mà bạn đã thực hiện trong phần này chính là các phương thức giao tiếp mà bạn sẽ sử dụng để PR.

Sau mỗi một kế hoạch, một mục tiêu bạn luôn luôn cần những đánh giá khách quan về kết quả mình đạt được có đáp ứng đúng với mục đích bạn đặt ra hay không. Bạn hãy quan sát và đo lường một cách cẩn thận để có thể đánh giá kết quả của mình cho chính xác nhất. Những phẩn hồi từ phía cộng đồng, dân chúng chính là những góp ý cho bạn có thể thayd dổi phương thức cũng như các bài học để có thể thực hiện một cách tốt nhất vào những lần sau

PR trong facebook được hiểu với rất nhiều ý nghĩa khác nhau theo từng trường hợp và hoàn cảnh khác nhau. Nhưng ý nghĩa sát thực nhất của PR trên facebook chính là công cụ, bước đệm cho hoạt động bán hàng, kinh doanh qua mạng đem lại hiệu quả hơn. Bạn có thể PR qua trang cá nhân người dùng, trong các nhóm và tạo Fanpage để quảng bá. Đối với những bạn đang làm trong lĩnh vực này thì cũng sẽ không quá lạ lẫm với các thuật ngữ như fanpage là gì, group Facebook là gì… để tận dụng PR sản phẩm.

Nếu bạn đang kinh doanh trên facebook thì nên xem những video này. Xem xong bạn sẽ có thêm được nhiều kinh nghiệm quý báu đấy. Tải miễn phí qua link:

Với một số doanh nghiệp vừa và nhỏ không đủ chi phí để lựa chọn cách thức PR trên báo đài, ti vi nên đã sử dụng PR thông qua trang mạng xã hội facebook. Hơn nữa, facebook hiện nay được rất nhiều người sử dụng vậy nên cách nhanh nhất để cho mọi người biết đến nhiều hơn mà không bị tốn quá nhiều chi phí thì hãy Pr trên facebook.

Khi các doanh nghiệp được biết đến với một vị trí nhiệm vụ chức năng nào đó thì tức là bước đầu đánh được vào tâm lý tò mò của mọi người để mọi người chủ động đi tìm hiểu về doanh nghiệp.

Đối với mỗi một doanh nghiệp thì uy tín và hình ảnh chính tốt chính là bước đệm cho công ty phát triển.

Đối với mỗi một doanh nghiệp hoạt động và kinh doanh một số loại mặt hàng thì không tránh khỏi những ý kiến phản hồi tiêu cực. Nhưng đồng nghĩa với nó là có rất nhiều ý kiến phản hồi tích cực. Facebook là một trang mạng xã hội có rất nhiều tính năng gợi mở và có thể nói là công khai cả những ý kiến đánh giá. Vậy nên đối với một doanh nghiệp đang bị vướng vào những cơn khủng hoảng ví dụ về ý kiến phản hồi không tốt thì sẽ được cứu vãn bằng những ý kiến trái chiều như tích cực.

Làm trong công tác truyền thông thì những thông tin bạn đưa ra để PR luôn luôn cần phải sáng tạo, đổi mới trong ngôn ngữ, cách thức tiếp cận vấn đề và thậm chí là nội dung về sản phẩm cũng như đối tượng cần được PR.

Đây là đức tính rất cần có dành cho người thực hiện công tác PR trên facebook. Đa số những lời PR trên trang mạng xã hội đều được nói quá lên so với hiện trạng thực tế. Vậy nên nếu muốn hoạt động PR trên facebook được lâu dài thì nội dung PR của bạn cần được đảm bảo tính trung thực. Mọi thứ đúng với thực tế sẽ luôn luôn tồn tại được lâu hơn so với những lời nói phi thực tế.

Do hoạt đông PR trên facebook chủ yếu là qua những bài viết và tương tác giao tiếp nên rất cần một người làm công tác này phải có kỹ năng viết lách tốt cũng với kỹ năng giao tiếp tuyệt vời nhằm thu hút sự chú ý của mọi người, ngoài ra những kỹ năng này cũng là bước đệm rất vững chắc để đưa chúng ta đến được mục tiêu đề ra nhanh nhất. Khi bạn viết bài mà đưa ra được những lý do để họ phải thích bạn thì đó cũng là bước đầu thành công cho bạn.

【#2】Ý Nghĩa Của Chỉ Số Hba1C Và Những Cách Giảm Hba1C Hiệu Quả

HbA1c là chỉ số cho biết lượng glucose trong máu được gắn với Hemoglobin (Hem – huyết sắc tố) của hồng cầu. Khi glucose từ thức ăn vào máu, chúng sẽ được gắn với Hem. Lượng glucose kết hợp này tỷ lệ thuận với tổng lượng đường trong máu và giữ nguyên trong khoảng 3 tháng ( bằng với tuổi thọ của hồng cầu). Do đó, đây là tiêu chuẩn hữu ích để đánh giá chỉ số đường huyết trong thời gian dài.

Chỉ số này cũng có giúp chẩn đoán tiểu đường và tiền tiểu đường. Tuy nhiên mức độ được sử dụng không nhiều như chỉ số đường huyết khi đói.

Cách làm xét nghiệm HbA1c

Xét nghiệm HbA1c được đo tại bệnh viện bằng cách lấy mẫu máu tương tự như kiểm tra đường huyết. Điểm khác biệt là bạn không cần phải nhịn ăn khi làm xét nghiệm.

Bạn có thể đo đường huyết bằng máy đo đường huyết cầm tay tại nhà hàng ngày. Tuy nhiên với HbA1c, bạn cần phải tới các cơ sở y tế. Chi phí xét nghiệm HbA1c thường rơi vào khoảng 100 – 200.000/1 lần, tùy thuộc nơi thực hiện.

Kiểm tra chỉ số đường huyết HbA1c nên được thực hiện 3 – 6 tháng 1 lần. Điều này sẽ giúp người bệnh đánh giá được hiệu quả điều trị và nguy cơ biến chứng của mình. HbA1c cao chứng tỏ bạn chưa kiểm soát tốt đường huyết và dễ bị biến chứng tiểu đường.

Lưu ý: Phụ nữ bị tiểu đường mang bầu chỉ cần xét nghiệm HbA1c trong 3 tháng đầu. Từ tuần thai thứ 13 trở đi, không cần đo HbA1c. Thay vào đó chỉ cần kiểm tra đường huyết khi đói và sau ăn để điều chỉnh chế độ ăn, vận động cho phù hợp.

Với người khỏe mạnh, HbA1c dưới 5.7% là bình thường, từ 5.7% trở lên là cao. Trong đó: 5.7 – 6.4% thuộc giai đoạn tiền tiểu đường, từ 6.5% là tiểu đường.

Ở người bệnh tiểu đường, chỉ số HbA1c an toàn sẽ cao hơn. Người mới mắc nên giữ HbA1c dưới 7%, tốt nhất là dưới 6.5%. Tuy nhiên mắc lâu năm, đặc biệt là người cao tuổi, giới hạn HbA1c an toàn có thể lên tới 7,5 – 8% tùy theo sức khỏe của người bệnh. Riêng phụ nữ mang thai bị tiểu đường, các chuyên gia Nội tiết đái tháo đường khuyến cáo HbA1c trong 3 tháng đầu nên dưới 6,1%.

Kết quả đo HbA1c có thể bị ảnh hưởng bởi bệnh lý gan thận, vitamin C, E, chất béo, bất thường về hồng cầu…. Do đó nếu sử dụng để chẩn đoán tiểu đường, nên kiểm tra lặp lại 2 lần trong 1 tuần.

– 38% biến chứng trên mạch máu lớn ( động mạch vành, mạch máu não).

– 40% biến chứng trên mạch máu ngoại vi (bệnh lý võng mạc, bệnh thận, thần kinh, chi,…)

– 38% nguy cơ tử vong.

Người bệnh tiền tiểu đường và tiểu đường cần song song kiểm soát đường huyết và HbA1c để giảm nguy cơ biến chứng nguy hiểm.

Mỗi người bệnh tiểu đường sẽ có kế hoạch điều trị riêng và cần theo dõi liên tục để kịp thời điều chỉnh theo sự tiến triển của bệnh. Vì vậy, nếu bạn bị tiểu đường, bạn nên sử dụng thuốc theo chỉ định của bác sĩ. Khoảng 3 – 6 tháng, nên đi xét nghiệm lại đường huyết và HbA1c để đánh giá hiệu quả điều trị.

Người hay đều phải hạn chế ăn những thực phẩm có hàm lượng tinh bột cao. Tuy nhiên, không nên loại bỏ hoàn toàn nhóm thực phẩm này để tránh thiếu dinh dưỡng. Thay vào đó, người bệnh nên chọn các thực phẩm cùng nhóm nhưng có chỉ số đường huyết GI thấp hơn. Ví dụ, chọn gạo lứt thay vì gạo trắng, bánh mì nguyên hạt thay vì bánh mì thông thường.

Người bệnh nên ăn nhiều bữa nhỏ thay vì ăn quá no trong 1 bữa. Việc bắt đầu bữa ăn bằng rau xanh cũng có tác dụng hạn chế tăng đường huyết sau ăn.

Bên cạnh đó cũng nên kiểm soát cân nặng, tránh tăng cân dẫn đến tình trạng béo phì. Đồng thời cần hạn chế thực phẩm chứa nhiều dầu mỡ, chất béo, cholesterol, hạn chế rượu bia, cafe là những yếu tố nguy cơ dẫn đến đường huyết tăng cao.

Giải pháp từ thảo dược

Sử dụng sản phẩm hỗ trợ có nguồn gốc thiên nhiên đang là lựa chọn được nhiều người bệnh tiểu đường ưu tiên. Việc kết hợp những sản phẩm này cùng thuốc điều trị sẽ giúp cải thiện chỉ số HbA1c, phòng ngừa biến chứng và làm chậm tiến trình bệnh tốt hơn, từ đó có thể giảm liều thuốc tây điều trị.

Minh Phương Lưu ý: Thực phẩm này không phải là thuốc, không có tác dụng thay thế các thuốc chữa bệnh tiểu đường. Đáp ứng của sản phẩm nhanh hay chậm tùy thuộc vào cơ địa của mỗi người và vào việc kiểm soát đường huyết, kiểm soát các bệnh cơ hội, đặc biệt là sự kiên trì trong quá trình sử dụng.

Nguồn: http://www.mayoclinic.org/tests-procedures/a1c-test/home/ovc-20167930

【#3】Định Nghĩa Phong Thủy Là Gì Khái Niệm Theo Khoa Học Nói Về Ý Nghĩa Thực Sự

Phần II. Định nghĩa về phong thủy là gì KPhần III. Định nghĩa về phong thủy là gì Khái niệmPhần IV. Định nghĩa về phong thủy là gì Khái niệm ý nghĩa thực sự theo khoa học Phần V. Định nghĩa về phong thủy là gì Khái niệm ý nghĩa thực sự theo khoa học Phần VI. Định nghĩa về phong thủy là gì Khái niệm ý nghĩa thực sự theo khoa học ý nghĩa thực sự theo khoa học hái niệm ý nghĩa thực sự theo khoa học

Thực ra phong thủy chỉ là nói liên một nửa ý nghĩa, nói đầy đủ phải là Phong thủy địa lý hoặc Địa lý phong thủy. Hiện nay phong thủy có những trường phái Loan Đầu và Khí hay Cảm xạ năng lượng… đều là kiến thức của Địa Lý, nhưng vì ít người học được những bộ môn này nên từ Thầy Địa Lý ít được biết đến. Thầy địa lý khi đi đến một khu nào đó có thể nhìn được long mạch và biết được cả khu dân cư đó thịnh hay suy, đứng ở ngoài đường có thể biết được nhà đó tốt xấu. Nhưng muốn xắp đặt vị trí và phương hướng của các bộ phận trong ngôi nhà phải học cách tính các hệ toán học Nhị phân – Ngũ hoàng – Thập phân trong Phong thủy. Như vậy Thầy phong thủy chỉ cần Thông thạo kiến thức trong sách là có thể làm được, nhưng Thầy địa lý phải có khả năng về Tâm linh, nhưng cũng phải học về địa hình địa thế. Nhưng một người giỏi thực sự phải giỏi cả hai bộ môn, lúc này gọi là Thầy Địa lý Phong thủy hoặc thầy phong thủy địa lý.

Định nghĩa Phong thủy là tên đặt cho Một Lĩnh Vực khoa học phương đông, cơ sở khoa học của phong thủy là hệ toán học Nhị phân – Ngũ hoàng – Thập phân. Kết hợp kiến thức Phong thủy và Địa Lý con người có thể biết được quy luật của Thiên Địa Nhân để chỉ cho con người những nguyên lý xây dựng và tu tạo Dương Trạch và Âm Trạch được tốt nhất.

Khi phân tích cơ sở khoa học của phong thủy, vạn vật trong vũ trụ đều được chia thành Âm và Dương, chính là hệ toán học nhị phân mà bây giờ quy định là số 0 và 1, hiện nay tất cả các thiết bị thông minh đều dùng hệ toán nhị phân: điện thoại – ti vi – máy tính… Phong thủy sau khi phân thành âm và dương, vạt vật đều được quy chiếu theo hệ Ngũ hoàng, đó chính là Ngũ hành, đơn giản nhất là Năm tháng ngày giờ sinh của một người đều được chia ra Thiên Can và Địa Chi có ngũ hành là gì, ngũ hành đó âm hay dương. Tiếp đến phong thủy áp dụng hệ toán học thập phân, chính là hệ cửu tinh luân chuyển theo Tam nguyên cửu vận.

Trong bộ môn phong thủy có 5 loại ngũ hành là kim thủy mộc hỏa thổ, mà lại đề cập đến gió là vì sao. Cặp từ Phong thủy với ý nghĩa là chỉ những hiện tượng là nhìn thấy như là nước và không nhìn là gió; nước là nhìn thấy được và chuyển thành hơi nước, các yếu tố ánh nắng, nhiệt độ, khí áp tạo thành gió mang hơi nước, rồi tạo ra mưa lại ngưng tụ thành nước. Mà cái nhìn thấy và không nhìn thấy con người đều cảm nhận được, đang tác động vào chúng ta hàng ngày. Giữa các yếu tố này có mối quan hệ mật thiết và trao đổi – biến đổi qua lại với nhau. Con người chúng ta ai Cái gì “nhìn – nghe – nếm – ngửi – sờ” thấy thì bảo có, còn không thì bảo là không có, rồi cho rằng là mê tín.

Tôi xin ví dụ về những thứ có xung quanh ta mà chúng ta không thấy, mà 100 năm trước cho là mê tín: Xung quanh chúng ta có vài chục loại sóng Điện thoại – Truyền hình – Đài – Vệ tinh – wifi… trước đây nói ngồi đây 3 giây vừa nghe vừa nói vừa thấy người ở bên kia địa cầu, có mê tín không, có chứ; nhưng bây giờ thì không, chỉ bẳng điện thoại là làm được. Khi hút 1 điều thuốc là có khoảng 4000 chất bay quanh chúng ta mà lúc đầu thấy sau lại không thấy, đó là sự qua lại giữa thấy và không…

Thông qua sự phân tích ở trên, để mọi người hiểu không thể tách từ Phong Thủy thành hai từ Phong và Thủy, hay định nghĩa rời rạc “phong là gió và thủy là nước”

Phong Thủy thực sự không chỉ đơn giản là Hướng Nhà Hợp tuổi hay không hợp và Màu Sắc theo ngũ hành hợp hay không. Theo tôi quan trọng hơn cả là sự cân bằng về âm dương và thế của một ngôi nhà.

Trên mạng bây giờ hoặc các thầy đọc sách xem cho người chuẩn bị làm nhà như sau: Tuổi này hợp 4 hướng này, kỵ 4 hướng kia, phân ra đông tây tứ trạch. Ban thờ – bếp – giường – bàn quay về hướng tốt, WC – bể phốt đặt ở cung xấu. Rồi nhiều nhà cung xấu ở mặt tiền cũng bắt người ta phải đặt bể phốt ra trước nhà, hướng tốt ở sau nhà cũng bắt ban thờ quay ra đằng sau, như thế là không hiểu biết về phong thủy.

Phong thủy phổ cập hiện nay là phong thủy phái bát trạch, là một trường phái sơ cấp của phong thủy. Bất kể ai có trí tuệ khá, tôi chỉ cần dạy 3 ngày cũng có thể thông thạo phong thủy phái bát trạch. Quan điểm nhà hướng tốt xấu ở đây mới chỉ có nhìn nhận đánh giá theo một trường phái sơ cấp là phong thủy bát trạch. Nhưng kiến thức Cao cấp của phong thủy nằm ở các trường phái Loan Đầu, Huyền không, Tam hợp, dương trạch tam yếu, khí, tứ trụ… Mỗi trường phái phong thủy là chỉ là một chương mục trong tổng thể kiến thức Địa lý Phong thủy, cũng giống như một mảnh ghép nhỏ trong một bức tranh lớn mà thôi.

【#4】Nghiên Cứu Khoa Học Là Gì? Mục Đích Và Ý Nghĩa Của Nckh

Nghiên cứu khoa học là gì ? Nghiên cứu khoa học là một quá trình hành động, tìm hiểu, quan sát và thí nghiệm dựa vào các dữ liệu, tài liệu đã được thu thập giúp phát hiện ra những bản chất và quy luật chung của sự vật và hiện tượng. Thông qua đây, bạn có thể tìm hiểu về các kiến thức mới hay tìm ra những ứng dụng trong kỹ thuật, mô hình mới với ý nghĩa thực tiễn.

Nghiên cứu khoa học tập trung vào những nội dung chính như sau:

  • Nghiên cứu khoa học được xem là một quá trình nhận thức hướng vào tất cả các góc cạnh trên thế giới nhằm đạt kết quả nghiên cứu mới hơn, cao hơn, giá trị hơn.
  • Nghiên cứu khoa học là việc khám phá về thuộc tính, bản chất của sự vật, hiện tượng nhằm phát hiện những quy luật vận động vốn có của những sự vật, hiện tượng có trong tự nhiên và xã hội.

Các loại hình nghiên cứu khoa học

Tùy thuộc vào từng mục tiêu nghiên cứu và những sản phẩm thu được khác nhau người ta phân chia thành các loại hình nghiên cứu khoa học. Nghiên cứu khoa học bao gồm những loại hình sau:

Đây là hoạt động nghiên cứu giúp phát hiện ra bản chất và quy luật của sự vật, hiện tượng có trong tự nhiên, xã hội và con người. Nhờ vào những phát hiện này để làm thay đổi về nhận thức của con người.

Nghiên cứu cơ bản bao gồm nghiên cứu cơ bản thuần túy và nghiên cứu cơ bản định hướng. Trong nghiên cứu cơ bản định hướng lại được chia làm nghiên cứu nền tảng và nghiên cứu chuyên đề.

Hoạt động nghiên cứu này sẽ vận dụng những quy luật đã được phát hiện bởi nghiên cứu cơ bản. Nhờ vào đó sẽ giúp giải thích được những vấn đề, sự vật, hiện tượng nhằm giúp hình thành nguyên lý công nghệ, sản phẩm, dịch vụ mới và áp dụng chúng vào hoạt động sản xuất và trong đời sống…

Hoạt động nghiên cứu thăm dò nhằm xác định ra các phương hướng nghiên cứu, thăm dò thị trường giúp tìm kiếm cơ hội nghiên cứu.

Ý nghĩa của nghiên cứu khoa học

Nghiên cứu khoa học mang tới nhiều ý nghĩa cho người thực hiện nghiên cứu. Thông qua bài nghiên cứu sẽ giúp mọi người được chủ động hơn và hình thành được những phương pháp, tư duy mới. Từ đó sẽ giúp phát hiện ra vấn đề và giải quyết vấn đề một cách tốt nhất.

Một công trình nghiên cứu khoa học thành công còn giúp mang tới niềm vui cho người thực hiện. Đồng thời đây cũng là một giai đoạn tiền đề tạo điều kiện cho các bạn thực hiện tốt những dự án, bài báo cáo sau này.

Mục đích nghiên cứu khoa học

Một bài nghiên cứu khoa học hoàn chỉnh bao gồm các mục tiêu cơ bản như sau:

Mục tiêu sáng tạo

Đây là mục đích tạo ra công nghệ mới đối với toàn bộ những lĩnh vực hoạt động có trong đời sống và xã hội nhằm nâng cao về trình độ văn minh và nâng cao năng suất đối với tất cả những lĩnh vực hoạt động.

Mục đích kinh tế

Nghiên cứu khoa học giúp mang tới hiệu quả kinh tế cao, từ đó làm tăng trưởng kinh tế trong xã hội.

Mục đích văn hóa và văn minh

Hoạt động nghiên cứu khoa học giúp mở mang trí thức, nâng cao về trình độ văn hóa. Đây cũng là bước cơ bản giúp hoàn thiện con người, đưa xã hội phát triển lên một trình độ văn mình hơn.

Bài nghiên cứu khoa học được thực hiện cần phải đảm bảo những đặc điểm cơ bản như sau:

Đây là một thuộc tính quan trọng trong nghiên cứu khoa học. Một bài nghiên cứu khoa học cần phải hướng đến phát hiện mới và không có sự lặp lại của các thí nghiệm, cách lý giải và kết luận cũ,… Tính mới trong nghiên cứu khoa học đòi hỏi phải có sự sáng tạo và tư duy nhạy bén.

Kết quả nghiên cứu nào đưa ra đều phải được kiểm chứng lại nhiều lần. Bởi trong một công trình nghiên cứu khoa học có thể được thực hiện bởi nhiều người, trong nhiều điều kiện khác nhau…

Kết quả nghiên quả cần phải đủ độ tin cậy để kết luận về bản chất của sự vật và hiện tượng.

Tính khách quan trong bài nghiên cứu khoa học đó chính là sự trung thực. Vì vậy để đảm bảo được về tính khách quan, người nghiên cứu không được nhận định một cách vội vàng dựa theo cảm tính mà cần phải kiểm tra lại kết luận xem đã chính xác hoàn toàn chưa.

Mục đích nghiên cứu khoa học là góp phần tăng hiệu quả kinh tế. Do đó đặc điểm không thể bỏ qua của nghiên cứu khoa học là tính kinh tế.

Khi nghiên cứu khoa học, cần phải tính toán và cân nhắc một cách thận trọng. Tuy nhiên đôi lúc người thực hiện nghiên cứu khoa học cũng cần để ý tới những yêu cầu sau:

  • Người nghiên cứu cần mạnh dạn nhìn nhận vấn đề, đề tài chưa có ai thực hiện nghiên cứu hay những đề tài mang tính mới mẻ.
  • Cần phải chấp nhận được rủi ro, thất bại trong nghiên cứu khoa học.

Bài nghiên cứu khoa học mẫu

【#5】Ý Nghĩa Ngày Nay Của Học Thuyết Về Giá Trị Thặng Dư Của C. Mác

1 – Cơ chế bóc lột tư bản chủ nghĩa

C. Mác đã vạch ra rằng, tư bản không hề phát minh ra lao động thặng dư, rằng: “Nơi nào mà một bộ phận xã hội chiếm độc quyền về những tư liệu sản xuất thì nơi đó người lao động, tự do hay không tự do, đều buộc phải thêm vào thời gian lao động cần thiết để nuôi sống bản thân mình một số thời gian lao động dôi ra dùng để sản xuất những tư liệu sinh hoạt cho người chiếm hữu tư liệu sản xuất” (1). Quy luật kẻ chiếm hữu tư liệu sản xuất bóc lột người lao động không có tư liệu sản xuất, được thực hiện dưới những hình thức và cơ chế khác nhau trong những hình thái xã hội khác nhau.

Trong xã hội chiếm hữu nô lệ, giai cấp nô lệ bị lệ thuộc hoàn toàn về thân thể vào giai cấp chủ nô, thì ngoài việc bị bóc lột lao động thặng dư, nô lệ còn bị chiếm một phần lớn sản phẩm cần thiết của giai cấp nô lệ. Trong chế độ phong kiến, giai cấp nông nô đã có một phần tự do về thân thể đối với giai cấp địa chủ và chế độ bóc lột lao động thặng dư biểu hiện dưới hình thức bóc lột địa tô, lao động thặng dư và lao động cần thiết được phân chia rõ ràng. Bởi vậy, theo C. Mác cơ chế bóc lột thời phong kiến có nhiều tiến bộ hơn chiếm hữu nô lệ.

Giai cấp tư sản bước lên vũ đài lịch sử cũng là giai cấp độc chiếm tư nhân những tư liệu sản xuất chủ yếu của xã hội. Khác với cơ chế bóc lột trong hai hình thái kinh tế – xã hội trước chủ yếu dựa trên quan hệ hiện vật, cơ chế bóc lột tư bản chủ nghĩa dựa trên quan hệ giá trị; nói cách khác là quan hệ trao đổi những vật ngang giá (tức là tuân theo quy luật giá trị). Quan hệ này che dấu sự bóc lột trong một cơ chế trao đổi với vẻ bề ngoài như là tự do và bình đẳng, chính vì vậy mà các nhà kinh tế học trước C. Mác đã không thành công trong việc lý giải bản chất bóc lột tư bản chủ nghĩa.

A. Smith và D. Ri-các-đô đã quan niệm một cách hời hợt, bề ngoài rằng, mua bán giữa tư bản và công nhân hình như là mua bán lao động nên cả hai ông đều gặp bế tắc trong việc lý giải một cách khoa học bản chất và nguồn gốc của lợi nhuận. Chẳng hạn, nếu lao động là hàng hóa thì nó phải được kết tinh vào vật, như vậy là công nhân bán hàng hóa chứ không bán lao động; lao động được xác định là thước đo của mọi giá trị thì không thể tự lấy nó để đo lường giá trị của bản thân nó. Mặt khác, nếu mua bán lao động mà trao đổi ngang giá thì không còn cơ sở tồn tại của lợi nhuận, nhưng thực tế lợi nhuận tồn tại một cách khách quan. Vậy, theo các cách giải thích đó, quy luật giá trị mâu thuẫn với quy luật sản xuất ra lợi nhuận và ngược lại.

C. Mác đã phát hiện rằng, quan hệ mua bán giữa công nhân và tư bản không phải là mua bán hàng hóa lao động mà là mua bán một loại hàng hóa đặc biệt – hàng hóa sức lao động. Hàng hóa này có giá trị và giá trị sử dụng khác với các hàng hóa thông thường. Giá trị của hàng hóa sức lao động là giá trị những tư liệu sinh hoạt tối thiểu cần thiết để tái sản xuất sức lao động của công nhân và bao hàm những yếu tố tinh thần, lịch sử và dân tộc… – Giá trị sử dụng của hàng hóa này (tức là tiêu dùng nó trong quá trình sản xuất) có khả năng tạo ra một lượng giá trị lớn hơn giá trị của chính nó là sức lao động. Do đó dù nhà tư bản trả đủ giá trị sức lao động cho công nhân trên cơ sở trao đổi ngang giá thì vẫn thu được phần giá trị dôi ra, biến thành lợi nhuận. Như vậy, quy luật giá trị và quy luật sản xuất ra lợi nhuận không phủ định lẫn nhau mà song song tồn tại: trao đổi giữa tư bản và công nhân tuân theo quy luật ngang giá (quy luật giá trị sức lao động) nhưng nhà tư bản vẫn thu được phần dôi ra ngoài giá trị sức lao động; phần dôi ra đó được C. Mác gọi là giá trị thặng dư. Như vậy, bóc lột lao động thặng dư biểu hiện thành bóc lột giá trị thặng dư là quy luật bóc lột đặc thù của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa và là quy luật tuyệt đối của phương thức sản xuất đó.

Tỷ số giữa giá trị thặng dư và tư bản khả biến hay tỷ số giữa lao động thặng dư và lao động cần thiết là tỷ suất giá trị thặng dư; tỷ suất đó nói lên mức độ bóc lột giai cấp công nhân. Giá trị thặng dư có biểu hiện bề ngoài là một số tiền dôi ra ngoài tư bản ứng trước; số tiền đó có tên gọi là lợi nhuận. Phạm trù lợi nhuận che dấu quan hệ bóc lột vì nó làm cho người ta dễ lầm tưởng là con đẻ của tư bản ứng trước (c + v) chứ không phải là con đẻ của tư bản khả biến (v).

Tổng số giá trị thặng dư bóc lột được phân chia thành các loại thu nhập ăn bám trong xã hội tư bản: lợi nhuận công nghiệp, lợi nhuận thương nghiệp, lợi nhuận ngân hàng; nó còn được phân chia nhỏ hơn nữa thành lợi nhuận doanh nghiệp, lợi tức cho vay v.v.. Quá trình phân chia đó tuân thủ theo quy luật cạnh tranh bình quân hóa tỷ suất lợi nhuận. Giá trị thặng dư còn phải phân chia cho chủ sở hữu ruộng đất dưới hình thức địa tô. Như vậy, tổng số giá trị thặng dư do toàn bộ giai cấp vô sản, công nhân tạo ra trong các ngành sản xuất bị toàn bộ giai cấp tư bản và địa chủ phân chia nhau trong cuộc đấu tranh không khoan nhượng.

Trong giai đoạn chủ nghĩa tư bản độc quyền, đỉnh cao của nó là độc quyền nhà nước là chủ nghĩa đế quốc, đã có nhiều biến đổi trong hình thức và cơ chế bóc lột tư bản chủ nghĩa. Quy luật sản xuất giá trị thặng dư biểu hiện thành quy luật tỷ suất lợi nhuận bình quân trong thời kỳ tự do cạnh tranh thì nay, trong chủ nghĩa tư bản độc quyền, nó biểu hiện thành quy luật tỷ suất lợi nhuận độc quyền cao; quy luật giá trị biểu hiện thành quy luật giá cả sản xuất trong thời kỳ tự do cạnh tranh nay biểu hiện thành quy luật giá cả độc quyền với hệ thống giá bán độc quyền cao, giá mua độc quyền thấp do tư bản độc quyền can thiệp và áp đặt v.v.. Những bộ phận cấu thành lợi nhuận độc quyền cao là: lao động thặng dư, thậm chí một phần lao động cần thiết của công nhân trong xí nghiệp độc quyền; một phần lao động thặng dư của các xí nghiệp nhỏ và vừa do xí nghiệp độc quyền xén bớt thông qua hệ thống giá cả độc quyền; lao động thặng dư, thậm chí một phần lao động cần thiết của nông dân và thợ thủ công cũng bị bóc lột thông qua hệ thống giá cả độc quyền; phần quan trọng là siêu lợi nhuận thuộc địa dựa trên sự bóc lột nặng nề lao động thặng dư và một phần lao động cần thiết của nhân dân lao động ở những nước thuộc địa hay phụ thuộc.

Cùng với sự phát triển của cách mạng khoa học – kỹ thuật và của chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước, cơ chế bóc lột đã trở nên phức tạp và tinh vi hơn (chủ nghĩa Taylo, chủ nghĩa Fayol, chủ nghĩa Ford, chủ nghĩa Ford mới v.v., lần lượt xuất hiện để biện minh cho tính công bằng, sòng phẳng trong quan hệ giữa tư bản với lao động). Trên thực tế trong chủ nghĩa tư bản hiện đại, ngày càng có nhiều thủ đoạn và hình thức bòn rút lợi nhuận tinh vi để không ít người còn lầm tưởng đến một thứ chủ nghĩa tư bản mới “nhân văn” hơn trước đây, như “chủ nghĩa tư bản nhân dân”, “xã hội tham dự”… Điều không thể che dấu được đó là sự hình thành một tầng lớp tư sản ăn bám, quý tộc, thực lợi, tài phiệt; sự thao túng có tính chất toàn cầu của các tập đoàn xuyên quốc gia, tình trạng bất bình đẳng trong các quan hệ thương mại quốc tế; sự xuất hiện của cái gọi là chủ nghĩa thực dân kinh tế; sự áp đặt chính sách giữa Đông và Tây, giữa các nước giàu với các nước nghèo…

2 – Đào sâu sự phân cực xã hội – hệ quả tất yếu của quy luật bóc lột tư bản chủ nghĩa

Sự phân hóa xã hội thành giai cấp không lao động nhưng giàu có, đầy quyền lực, thống trị, áp bức đa số người trong xã hội và giai cấp lao động sản xuất ra của cải xã hội nhưng nghèo khổ, bị tước mọi quyền và bị áp bức là sản phẩm tất yếu của mọi xã hội có chế độ người bóc lột người dựa trên chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất. Nhưng sự phân cực xã hội với hình thức biểu hiện kinh tế của nó là sự phân hóa giàu – nghèo trong các xã hội nô lệ và phong kiến, mặc dù các chế độ bóc lột siêu kinh tế này biểu hiện ra là dã man, tàn bạo, nhưng là có hạn độ.

Trong chế độ bóc lột tư bản chủ nghĩa, sự phân cực xã hội là vô cùng sâu sắc, sự phân hóa giàu nghèo được đẩy tới cực độ. Ở đây của cải ngày càng tập trung vào một số nhỏ các cá nhân là những triệu phú và tỉ phú; ở cực đối lập là những người sống dưới mức nghèo khổ ở các nước tư bản phát triển và đông đảo những người cùng khổ, đói rét ở các nước tư bản đang phát triển. Chế độ bóc lột tư bản chủ nghĩa đã sớm chớp lấy những thành tựu mới của khoa học, kỹ thuật và công nghệ để không ngừng nâng cao năng suất lao động xã hội, do đó năng suất lao động thặng dư cũng ngày càng tăng theo; cơ chế bóc lột tư bản chủ nghĩa đã chuyển hướng sang dựa chủ yếu trên sự tăng năng suất lao động. Cũng trên cơ sở kỹ thuật đã phát triển mà cơ chế bóc lột dựa trên tăng cường độ lao động thái quá và kéo dài ngày lao động một cách che dấu cũng phát triển. Của cải xã hội ngày càng được tạo ra nhiều, nhưng lại chỉ tập trung vào một cực. Mặt khác, nội dung vật chất của chế độ bóc lột tư bản chủ nghĩa là giá trị thặng dư mang hình thức giá trị trao đổi (tức là vàng bạc hay tiền tệ); trong quan hệ bóc lột dựa trên hình thức giá trị trao đổi, lòng thèm khát tăng lao động thặng dư và khát vọng làm giàu trên cơ sở đó được đẩy tới cực độ. Sở dĩ như vậy là vì giá trị trao đổi với hình thức biểu hiện vật chất của nó là vàng, tức tiền tệ, về mặt chất lượng có sức mạnh vô hạn (có tiền là có tất cả), về mặt số lượng bao giờ cũng có hạn. Mâu thuẫn giữa chất lượng có sức mạnh vô hạn và số lượng có hạn đó làm tăng lòng thèm khát vơ vét được nhiều tiền. Do tất cả những điều kiện lịch sử và tình hình trên, quy luật bóc lột tư bản chủ nghĩa đã đẩy sâu quá trình phân cực xã hội mà các xã hội bóc lột trước kia không thể sánh kịp.

Đặc điểm của sản xuất tư bản chủ nghĩa còn là tái sản xuất mở rộng nhằm mở rộng bóc lột và ngày càng tích tụ tập trung tư bản để cải tiến kỹ thuật, tăng năng suất lao động làm cho giá trị cá biệt thấp hơn giá trị xã hội với mục đích thu lợi nhuận cao hơn lợi nhuận trung bình và thắng trong cạnh tranh. Do đó, tư bản tích lũy ngày càng giành đầu tư nhiều hơn vào việc hiện đại hóa guồng máy sản xuất, làm cho kết cấu hữu cơ (c/v) của tư bản thay đổi theo hướng: tư bản bất biến (c) tăng lên cả về giá trị tuyệt đối và tương đối trong khi tư bản khả biến (v) tăng lên tuyệt đối, nhưng giảm tương đối do kỹ thuật hiện đại vừa đắt tiền vừa làm giảm số lượng công nhân vận hành máy móc. Quy luật kết cấu của tư bản thay đổi theo hướng tăng lên như vậy dẫn đến giảm mức cầu về sức lao động trong khi số lượng của giai cấp công nhân tăng lên cùng với sự phát triển của sản xuất tư bản chủ nghĩa. Từ đó dẫn đến nạn nhân khẩu thừa tương đối hay nạn thất nghiệp và hình thành đội quân công nghiệp trù bị.

Tích tụ, tập trung tư bản trong quá trình tích lũy cũng đưa đến kết quả một số ít nhà tư bản tước đoạt của số đông nhà tư bản nhỏ và vừa qua con đường cạnh tranh “cá lớn nuốt cá bé”. Nạn nghèo khổ, áp bức, nô dịch, bóc lột càng tăng lên. Vậy là, sự tập trung tư liệu sản xuất và xã hội hóa lao động đạt đến cái điểm mà chúng không còn thích hợp với cái vỏ tư bản chủ nghĩa của chúng nữa…

3 – Ý nghĩa ngày nay của Học thuyết về giá trị thặng dư đối với nước ta

Trong Học thuyết về giá trị thặng dư, C. Mác đã có một nhận định có tính chất dự báo khoa học trong xã hội hiện nay, đó là: “Mục đích thường xuyên của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa là làm thế nào để với một tư bản ứng trước tối thiểu, sản xuất ra một giá trị thặng dư hay sản phẩm thặng dư tối đa; và trong chừng mực mà kết quả ấy không phải đạt được bằng lao động quá sức của những người công nhân, thì đó là một khuynh hướng của tư bản, thể hiện ra trong cái nguyện vọng muốn sản xuất ra một sản phẩm nhất định với những chi phí ít nhất về sức lực và tư liệu, tức là một khuynh hướng kinh tế của tư bản dạy cho loài người biết chi phí sức lực của mình một cách tiết kiệm và đạt tới mục đích sản xuất với một chi phí ít nhất về tư liệu” (2).

Từ việc nghiên cứu Học thuyết giá trị thặng dư của C. Mác, chúng ta thấy rõ ít nhất ba vấn đề lớn trong giai đoạn phát triển hiện nay của đất nước.

Một là, trong thời kỳ quá độ nền kinh tế ở nước ta, trong một chừng mực nào đó, quan hệ bóc lột chưa thể bị xóa bỏ ngay, sạch trơn theo cách tiếp cận giáo điều và xơ cứng cũ. Càng phát triển nền kinh tế nhiều thành phần chúng ta càng thấy rõ, chừng nào quan hệ bóc lột còn có tác dụng giải phóng sức sản xuất và thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển, thì chừng đó chúng ta còn phải chấp nhận sự hiện diện của nó.

Hai là, trong thực tế nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay, mọi phương án tìm cách định lượng rành mạch, máy móc và xơ cứng về mức độ bóc lột trong việc hoạch định các chủ trương chính sách, cũng như có thái độ phân biệt đối xử với tầng lớp doanh nhân mới đều xa rời thực tế và không thể thực hiện được. Điều có sức thuyết phục hơn cả hiện nay là quan hệ phân phối phải được thể chế hóa bằng luật. Đường lối chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước mỗi khi được thể chế hóa thành luật và các bộ luật thì chẳng những góp phần xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, lấy luật làm công cụ và cơ sở để điều chỉnh các hành vi xã hội nói chung, mà còn cả hành vi bóc lột nói riêng. Ai chấp hành đúng pháp luật thì được xã hội thừa nhận và tôn vinh theo phương châm: dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Trong nhận thức, quan điểm chung nên coi đó cũng chính là mức độ bóc lột được xã hội chấp nhận, tức là làm giàu hợp pháp. Trong quản lý xã hội thì phải kiểm soát chặt chẽ thu nhập cá nhân, thu nhập doanh nghiệp để, một mặt, chống thất thu thuế, mặt khác, bảo đảm sự công bằng trong phân phối thông qua Nhà nước và bằng các “kênh” phân phối lại và điều tiết thu nhập xã hội. Thiết nghĩ, đây là một hướng tiếp cận vấn đề bóc lột giúp chúng ta tránh được những nhận thức giáo điều, phi biện chứng về quan hệ bóc lột, cũng như việc vận dụng nó trong một giai đoạn lịch sử cụ thể của việc giải phóng sức sản xuất, tạo động lực phát triển kinh tế và chủ động hội nhập thành công với nền kinh tế quốc tế.

Ba là, mặt khác, cũng phải bảo vệ những quyền chính đáng của cả người lao động lẫn giới chủ sử dụng lao động bằng luật và bằng các chế tài thật cụ thể mới bảo đảm công khai, minh bạch và bền vững. Những mâu thuẫn về lợi ích trong quá trình sử dụng lao động là một thực tế, việc phân xử các mâu thuẫn ấy như thế nào để tránh những xung đột không cần thiết cũng lại là một yêu cầu cấp thiết hiện nay, thể hiện trong bản chất của chế độ mới. Bảo vệ được những quyền lợi chính đáng, những quyền lợi được luật pháp bảo vệ, của tất cả các bên trong quan hệ lao động là một bảo đảm cho việc vận dụng một cách hợp lý quan hệ bóc lột trong điều kiện hiện nay, đồng thời cũng là những đóng góp cơ bản nhất cho cả quá trình hoàn thiện và xây dựng mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.

(1) C. Mác và Ph. Ăng-ghen: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1993, t 23, tr 347 (2) C. Mác và Ph. Ăng-ghen: Sđd, t26, phần II, tr 804

【#6】Ý Nghĩa To Lớn Của Chuông Gió Trong Phong Thủy

Người ta thường treo chuông gió ở vườn, cửa sổ, hoặc hiên nhà vừa để trang trí, mang đến những giai điệu vui tai và khắc chế nguồn năng lượng sống từ bên ngoài, luân chuyển đến khắp không gian nhà những nguồn năng lượng tốt.

Chuông gió là một vật có tác dụng kỳ diệu trong phong thủy, nó có tác dụng hóa giải hung khí và mang lại điều tốt lành.

Theo quan niệm của Phật giáo, cái gì tĩnh thì luôn biểu hiện cho sự chết chóc và những cái xấu; ngược lại những gì động, phát ra âm thanh thì biểu hiện cho sự sống và điều tốt lành. Bởi vậy, khi chuông gió reo lên có nghĩa là đang báo hiệu những điều lành. Ngoài ra, chuông gió có tác dụng hóa giải hung khí án ngữ, biến hung thành cát nên thường dùng trong nhà hoặc trong văn phòng làm việc.

Cụ thể: Với chuông gió bằng kim loại bạn nên treo ở hướng Tây, Tây Bắc và hướng Bắc; Với chuông gió chất liệu bằng tre, gỗ chọn hướng Đông, Đông Nam và hướng Nam. Còn loại chuông được làm bằng chất liệu sứ, đất sét nung,… là hiện diện của mệnh Thổ, nên chọn các vị trí trung tâm, Tây Nam, Đông Bắc, Đông và Đông Nam của ngôi nhà, phòng làm việc.

Mặt khác, phần giá treo với các hình ảnh mang tính tượng trưng bạn cũng nên lưu ý, ví dụng chuống gió bằng đất sét hoặc sứ mang hình trái tim sẽ hợp cho hướng Tây Nam (đại diện cho cung tình ái) nên được đặt trong phòng ngủ, phòng làm việc hoặc sân vườn. Còn, chiếc chuông gió với hình ảnh đức Phật sẽ phát huy tác dụng với những nguồn năng lượng phong thuỷ ở hướng Đông Bắc, tiêu biểu cho cung Học vấn.

Số lượng các thanh gắn trên chuông gió cũng là một yếu tố cần để tâm. Thường thì chuông gió được tính toán với số lượng những thanh chuông sao cho mang lại hiệu quả tốt nhất. Với loại chuông 5 thanh, 6 thanh và 8 thanh là những loại chuông phổ biến nhất để phát huy được công dụng ngăn chặn những luồng khí tiêu cực và tăng cường năng lượng có ích cho ngôi nhà.

Ngoài ra, việc treo chuông gió trong nhà cũng giống như một thiết kế để trang trang trí cho đẹp ngôi nhà của bạn đẹp hơn.

Thanh Mai

Cùng Danh Mục

【#7】Chuông Gió Là Gì? Ý Nghĩa Của Chuông Gió Trong Phong Thủy Nhà Ở

  • 13:13 21/03/2020
  • Xếp hạng 4.7/5 với 7 phiếu bầu

Chuông gió vốn là một món đồ rất quen thuộc với mỗi chúng ta, thường được nhiều hộ gia đình, thậm chí là nhiều bạn trẻ treo trong nhà vì ngoại hình bắt mắt, âm thanh vui tai.

1. Chuông gió phong thủy là gì?

Chuông gió là một đồ vật rất quen thuộc và phổ biến

Để hiểu ý nghĩa của chuông gió trong phong thủy, trước hết ta cần hiểu chuông gió phong thủy là gì?

Chuông gió hay còn có tên gọi theo tiếng Hán là “phong linh” và tiếng nhật là “furin”, là một trong những đồ vật trang trí rất phổ biến và quen thuộc với nhiều người hiện nay. Chuông gió được biết đến và ưa chuộng bởi nó tạo ra được những âm thanh trong trẻo, vui tai.

Cấu tạo của chuông gió thường gồm nhiều các thanh kim loại, thanh tre hoặc các chất liệu khác với độ dài ngắn khác nhau. Khi các thanh này va chạm với nhau hoặc va chạm với con lắc ở giữa sẽ tạo nên âm thanh.

Chuông gió hình dạng chuông úp sẽ có gắn con lắc ở ngay bên trong mỗi chiếc chuông. Khi gặp gió, con lắc bên trong sẽ va chạm với chiếc chuông úp bên ngoài, tạo nên âm thanh.

Riêng chuông gió Nhật Bản thường có một mẩu giấy được gắn ngay phía dưới dùng để ghi những lời ước nguyện tốt lành của người treo.

Chuông gió Nhật Bản trông khá khác biệt

Thời xưa, chuông gió có công dụng báo hiệu cho chủ nhà mỗi khi khách đến và dự báo được hướng gió.

Ngày nay, chuông gió đặc biệt phổ biến trong các gia đình người Á Đông, bởi người dân ở khu vực này coi trọng các yếu tốt phong thủy trong ngôi nhà.

Vật phẩm phong thủy này thường có tác dụng chủ yếu là trang trí nhà cửa, khiến ngôi nhà thêm phần sinh động, góp phần xua đuổi nguồn không khí không trong lành và thu hút vận may, tài lộc vào nhà, khiến các thành viên trong gia đình luôn được bình an và khỏe mạnh.

2. Ý nghĩa của chuông gió trong phong thủy

Theo quan niệm tâm linh trong Phật giáo thì tĩnh biểu hiện cho cái chết, động biểu hiện cho sự sống. Vì thế, nếu treo chuông gió trong nhà thì sẽ giúp không gian có thêm âm thanh, trở nên sống động hơn rất nhiều.

Chuông gió có tác dụng điều hòa sự vận động của năng lượng, đẩy lùi nguồn năng lượng tiêu cực ra khỏi ngôi nhà của bạn, cũng như giúp luân chuyển những nguồn năng lượng vốn đang trì trệ trong nhà, thu hút những nguồn năng lượng tốt, đem lại may mắn và bình an cho gia chủ.

Chất liệu, số thanh và biểu tượng của chuông gió khác nhau sẽ có ý nghĩa và tác dụng khác nhau, bạn nên lựa chọn loại chuông phù hợp tùy vào mục đích của gia đình bạn là hóa giải vận xui hay thu hút tài lộc.

Theo số thanh: Chuông gió thường được gắn 5 thanh, 6 thanh hoặc 8 thanh. Số lượng thanh của chuông gió sẽ mang ý nghĩa khác nhau. Trong đó:

Chuông gió có 5 thanh sẽ mang lại luồng sinh khí dồi dào cho ngôi nhà của bạn, ngăn chặn các nguồn năng lượng xấu, hóa giải nhiều vấn đề trong phong thủy.

Chuông gió có 6 hoặc 8 thanh sẽ mang lại nhiều may mắn và tài lộc cho gia đình bạn, giúp việc làm ăn thuận lợi, sự nghiệp có nhiều thăng tiến.

Chuông gió có tác dụng lớn trong phong thủy

Vì ý nghĩa của chuông gió trong phong thủy là như vậy nên bạn không thể treo món đồ này bằng bất cứ chất liệu nào, ở bất cứ vị trí nào trong nhà, bởi rất có thể việc này sẽ vi phạm những điều kiêng kị, gây ra những tác dụng ngược lại cho ngôi nhà. Treo chuông gió đúng vị trí để không mang họa đến nhà.

Xem các bài viết khác:

【#8】Tìm Hiểu Ý Nghĩa Chuông Gió Trong Phong Thủy Là Gì ?

1.Chuông gió phong thủy là gì?

Chuông gió hay còn mang tên gọi theo tiếng Hán là “phong linh” và tiếng nhật là “furin”, là 1 trong các vật dụng trang hoàng rất phổ biến và thân thuộc với phổ thông người hiện nay. Chuông gió được biết tới và ưa chuộng bởi nó tạo ra được các âm thanh trong trẻo, vui tai.

Cấu tạo của chuông gió thường gồm phổ biến những thanh kim loại, thanh tre hoặc các chất liệu khác mang độ dài ngắn khác nhau. khi các thanh này va chạm có nhau hoặc va chạm mang con lắc ở giữa sẽ tạo nên âm thanh.

Chuông gió dạng hình chuông úp sẽ mang gắn con lắc ở ngay bên trong mỗi mẫu chuông. lúc gặp gió, con lắc bên trong sẽ va chạm sở hữu chiếc chuông úp bên ngoài, tạo nên âm thanh.

2. Ý nghĩa chuông gió trong phong thủy

Theo ý kiến của khá nhiều người tin vào tâm linh thì việc dùng chuông gió cũng sẽ giúp hóa giải được hung khí, xua tan các năng lượng xấu gây tác động ra xa và đem lại nguồn năng lượng hăng hái vào nhà.

Chuông gió với tác dụng điều hòa sự chuyển động của năng lượng, đẩy lùi nguồn năng lượng thụ động ra khỏi ngôi nhà của bạn, cũng như giúp luân chuyển các nguồn năng lượng vốn đang bê trễ trong nhà, lôi kéo các nguồn năng lượng phải chăng, đem lại may mắn và bình an cho gia chủ.

Chất liệu, số thanh và biểu trưng của chuông gió khác nhau sẽ sở hữu ý nghĩa và tác dụng khác nhau, bạn nên chọn lựa mẫu chuông phù hợp tùy vào mục đích của gia đình bạn là hóa giải vận xui hay lôi kéo tài lộc.

Theo số thanh: Chuông gió thường được gắn 5 thanh, 6 thanh hoặc 8 thanh. Số lượng thanh của chuông gió sẽ mang ý nghĩa khác nhau. Trong đó:

  • Chuông gió với 5 thanh sẽ đem lại luồng nhựa sống dồi dào cho ngôi nhà của bạn, ngăn chặn các nguồn năng lượng xấu, hóa giải phổ quát vấn đề trong phong thủy.
  • Chuông gió sở hữu 6 hoặc 8 thanh sẽ đem đến rộng rãi may mắn và tài lộc cho gia đình bạn, giúp việc khiến ăn tiện dụng, sự nghiệp có phổ quát thăng tiến.
  • Chuông gió màu vàng thể hiện cho sự ôn hòa, ánh sáng, sự lạc quan vui vẻ và chủ nghĩa hoàn hảo.
  • Chuông gió màu xanh biểu đạt cho tuổi trẻ, hòa bình, tươi mới, ý chí tiến thủ, khỏe mạnh và may mắn.
  • Chuông gió màu xanh lam diễn đạt cho sự tươi đẹp, bình an, sự tin tưởng, lòng tự tin và tính kiên định.
  • Chuông gió màu tím diễn tả sự cao quý, cao nhã, bí mật, lộng lẫy và trí tuệ.

【#9】Hoa Giấy Valentine Với Những Ý Nghĩa Thú Vị Tuyệt Vời

Hoa giấy valentine được sử dụng rất nhiều trong dịp đặc biệt này với ý nghĩa tượng trưng cho 1 tình yêu vĩnh cửu.

Ngày lễ tình nhân là ngày mà những người yêu nhau muốn dành chọn cho nhau những yêu thương nồng nàn, những cử chỉ thân mật và những món quà ý nghĩa. Vì vậy mà vào ngày này hoa giấy mùa valentine được sử dụng làm quà tặng tình nhân rất nhiều. Bởi lẽ chúng mang trên mình nhiều ý nghĩa và thông điệp thú vị mà người sử dụng muốn dành tặng cho người mà mình yêu thương.

Hoa giấy valentine với những ý nghĩa sâu sắc:

Việc sử dụng hoa giấy để làm quà tặng để thể hiện những mong muốn, lời chúc thầm kín của người tặng dành cho người mình yêu thương. Vậy ý nghĩa của nó như thế nào?

Thể hiện tình cảm đặc biệt đến người mình yêu:

Vào dịp lễ Valentine nhiều người đã sử dụng quà tặng để thể hiện tình cảm thầm kín của mình cho đối tượng bạn đang hướng đến. Nhờ vào việc sử dụng những bông hoa giấy rực rỡ, đủ sắc màu sẽ thay bạn nói ra tâm tư tình cảm của mình đối với người khác. Chỉ cần cầm trên tay những bông hoa giấy mà bạn tặng, đối tượng có thể hiểu được tình yêu mà bạn dành cho họ đẹp như những bông hoa giấy này.

Sử dụng những loài hoa đặc trưng thú vị:

Vào mỗi dịp lễ tình nhân đến thì hoa hồng thường được sử dụng nhiều nhất. Bởi nó là loài hoa thể hiện tình yêu cao đẹp, say đắm. Với hoa giấy việc tạo ra những bông hoa giấy đầy xinh đẹp không kém gì hoa tươi sẽ giúp bạn tỏ tình hiệu quả nhất.

Tạo ra sự độc đáo, đặc biệt riêng:

Trong khi xu hướng sử dụng hoa tươi để tặng quà cho người mình yêu đang ngày càng ít đi bởi không có nhiều mới mẻ, lạ lẫm thì việc sử dụng những bông hoa giấy valentine dường như là điều thay thế tuyệt vời. Với những bông hoa giấy này vẫn mang trên mình ý nghĩa cho tuyệt vời của quà tặng, của tình yêu mà các loài hoa mang trên mình. Đồng thời chúng cũng việc sử dụng hoa giấy làm quà tặng đã tạo ra sự độc đáo, lạ lẫm và riêng biệt, khiến cho đối tượng được nhận quà cảm thấy thích thú hơn.

Với những thông tin kể trên, chúng ta đã biết được việc sử dụng hoa giấy cho valentine mang lại nhiều ý nghĩa thú vị. Những ý nghĩa này hết sức đặc biệt và khiến nhiều người yêu thích. Để có được những bông hoa giấy đẹp nhất, ý nghĩa nhất chúng ta có thể đến với suchin shop để lựa chọn cho mình những mẫu hoa đẹp nhất, ý nghĩa nhất và được mình yêu thích.

Tại địa chỉ Số 16 ngõ 377 đường Giải Phóng, Thanh Xuân, Hà Nội của suchin shop hiện có rất nhiều mẫu mã hoa giấy quà tặng valentine cho bạn lựa chọn. Ngoài ra, bạn có thể tham khảo trên website Suchin để có thể tham khảo các mẫu hoa giấy đa dạng, phong phú và đặt mua online đầy tiện lợi.

SUCHIN PAPER ART: Chuyên thi công, thiết kế backdrop chuyên nghiệp, uy tín nhất tại Hà Nội. Sản xuất , bán buôn bán lẻ các loại hoa thủ công, hoa giấy số lượng lớn.

Địa chỉ: Số 16 ngõ 377 đường Giải Phóng, Thanh Xuân, Hà Nội.

Email: [email protected]

Website: https://suchin.vn.

Hotline: 0129 685 2222 0439938436

【#10】Tìm Hiểu Ý Nghĩa Hoa Giấy

Cây hoa giấy là loại cây hoa khá dễ trồng và sống được ở nhiều vùng khí hậu khác nhau. Bởi là thân bụi, không phải dây leo cũng không phải thân gỗ nên bạn có thể trồng ngay trên đất hay trong chậu, hàng rào tùy ý thích. Rễ bông giấy rất dễ phát triển và phát triển còn rất nhanh. Bạn có thể trồng hoa bằng cách giâm cành đơn giản. Điểm mà mọi thường thường rất thích ở bông giấy chính là có thể cắt tỉa, uốn cây theo nhiều hình dạng mà gia chủ thích.

Hoa giấy cũng là loài hoa có nhiều màu sắc đa dạng. Hiện bông giấy có những màu như: hồng đậm, tím, đỏ thẫm, vàng tươi, cam, trắng tinh khôi,.. Có giống thì có 1 màu, nhưng cũng có giống lại có sự kết hợp giữa 2 màu với nhau trông rất bắt mắt và độc đáo. Những bông hoa đan xen, xếp cạnh nhau khăng khít tượng trưng cho sự thân mật, đoàn kết giữa những thành viên trong gia đình với nhau vậy. Cánh hoa giấy mỏng manh mang lại nét đẹp thuần khiết.

Một vẻ đẹp đơn giản, thùy mị và dễ thương không tưởng. Từng bông hoa giấy đơn sơ, giản dị, chẳng sang trọng hay kiêu kỳ nhưng lại khiến nhiều người đem lòng yêu mến. Khi nhắc đến loài hoa giấy, người ta luôn nghĩ đến những tình yêu đầu đời thơ ngây, đầy mộng mơ. Ngoài ra, bởi thân của hoa giấy có nhiều gai và cành thương rất cứng cáp, trong khi đó hoa thì lại mỏng manh, yếu ớt. Vì vậy, người ta còn ví hoa giấy là biểu tượng của sự bảo vệ cái đẹp.

Mỗi loài cây, loài hoa đều mang trong mình một ý nghĩa, một câu chuyện. Câu chuyện về hoa giấy này là một câu chuyện tình yêu đầy trái ngang, thương đau, đượm buồn. Theo truyền thuyết kể lại thì câu chuyện này vô cùng giằng xé và đầy uẩn khúc, cay đắng. Bắt nguồn từ ngôi làng nghèo ở miền Bắc nước ta, nơi con sông Lục ở ruộng mả làng Cối. Câu chuyện kể về mối tình thân mật, khăng khít giữa 2 người con gái, là hàng xóm của nhau, phải đương đầu với nhiều thử thách và nhận lại cái kết bi thương.

Hoa giấy không chỉ được mọi người yêu mến, trân quý bởi vẻ đẹp, màu sắc mộng mơ của chúng. Mà còn là ý nghĩa sâu sắc của loài hoa này. Hoa ẩn chứa nhiều ý nghĩa về tình yêu vô cùng đáng trân trọng. Theo quan niệm từ lâu đời , loại hoa giấy này được xem là tượng trưng cho những tình cảm chân thành và sự cảm thông sâu sắc mà đôi lứa dành cho nhau. Hoa giấy là hoa biểu tượng cho 1 tình yêu trong sáng và vẻ đẹp thuần khiết, khiêm nhường.

Bông giấy còn ngoài việc để trang trí nhà cửa, cảnh quan mà còn giúp thanh lọc không khí, đem lại một không khí trong lành, dễ chịu. Người ta còn hay nói rằng, hoa giấy mang ý nghĩa tượng trưng cho sự hạnh phúc, sum vầy. Là sự bảo bọc, chở che, vun vén và mang lại cho gia chủ niềm may mắn, phát tài, sung túc. Đem lại sự an toàn và bình yên cho mỗi thành viên trong gia đình. Ngoài ra, hoa giấy còn được nhiều người xem là loại cây có tác dụng có thể xua đuổi được xui xẻo, ma tà.

Tuy là loài hoa này không có được vẻ đẹp kiêu sa, nhưng cây bông giấy lại luôn mang trong mình nhiều ý nghĩa về sự sum vầy, che chở, yêu thương. Hoa thường được trồng ở trước nhà nhằm thu hút tài lộc và sự may mắn. Bông giấy mang vẻ đẹp bình dị, mộc mạc vì vậy nó còn là biểu trưng cho những tình yêu tuổi mới lớn trong sáng, đơn sơ, không vụ lợi.

Loài hoa giấy đẹp dịu dàng, sâu lắng, mùi hương thanh thoát giống như sự đẹp đẽ, tình yêu đầu đời của những bao cô gái tuổi mới lớn.Những nhành hoa giấy mọc thành nhiều chùm là hình ảnh biểu tượng cho những người trong gia đình luôn yêu thương, đùm bọc nhau, san sẻ bao khó khăn, đắng cay ngọt bùi trong cuộc sống.

Hoa giấy có rất nhiều màu, mỗi màu sắc lại mang những ý nghĩa và sứ mệnh khác nhau. Hoa thể hiện sự chăm chỉ, cần cù, chịu thương chịu khó của người dân Việt Nam ta từ xưa đến nay. Hoa mỏng manh nhưng lại ẩn chứa sức sống tiềm tàng, mãnh liệt như chính dân tộc Việt Nam vậy.

Cách trồng và chăm sóc cây hoa giấy

Hoa giấy là loại cây hoa rất ưa nắng và nó có thể chịu được khô hạn lâu ngày. Vì vậy cách trồng và chăm sóc cây hoa giấy cũng vô cùng đơn giản. Bạn có thể tham khảo qua cách trồng sau đây:

Hiện tại phương pháp trồng hoa giấy thường là biện pháp giâm cành. Đầu tiên, cần cắt cành có độ dài khoảng 20 đến 30 cm, rồi đem cắm sâu xuống đất tầm khoảng 7 cm là được. Khi mới trồng thì ta cần thực hiện che bóng mát. Đi kèm với đó là thường xuyên tưới nước để cây có thể nhanh bén rễ và phát triển tốt. Sau thời gian tầm 10 ngày thì cành được giâm đã bắt đầu đâm chồi. 2 tháng sau đó thì sẽ bén rễ.

Ngắm những tấm hình hoa giấy xinh xắn

Flower Shop là shop hoa tươi cung cấp đa dạng các loại hoa với nhiều mẫu mã đẹp. Hoa tại shop luôn đảm bảo tươi mới và đảm bảo chất lượng, được mọi người vô cùng ưa chuộng và tin tưởng.

Hãy đến với Flower Shop bạn sẽ được chiêm ngưỡng những bông hoa tươi tắn nhất. Mọi thắc mắc về việc chọn bất kỳ loài hoa nào để phù hợp cho từng hoàn cảnh, từng dịp khác nhau của quý khách sẽ được nhân viên tại cửa hàng tận tình tư vấn kỹ lưỡng. Ngoài ra khách hàng còn có thể liên hệ với shop qua tổng đài hoặc qua website Flower Shop để giải đáp nhanh nhất mọi thắc mắc.