Đề Xuất 1/2023 # Quốc Tịch Úc Và Bản Sắc Của Người Việt # Top 2 Like | Shareheartbeat.com

Đề Xuất 1/2023 # Quốc Tịch Úc Và Bản Sắc Của Người Việt # Top 2 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Quốc Tịch Úc Và Bản Sắc Của Người Việt mới nhất trên website Shareheartbeat.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Người Việt qua Úc với nhiều mục đích khác nhau. Có người qua để du học, để làm việc, hay để tìm kiếm một cuộc sống tốt đẹp hơn. Nhiều người khi mới qua cũng chưa xác định rằng, liệu mình có muốn tiếp tục sống ở đây cho đến hết quãng đời còn lại hay không. 

Thế nhưng sau một khoảng thời gian ổn định và thích nghi với cuộc sống mới, phần lớn đều muốn ở lại đất nước này. Và từ đó, những day dứt về nước Úc như là một quê hương thứ hai, cũng như về bản sắc Việt trong bản thân mỗi người lại trỗi lên.

Chị H., một nhân viên văn phòng ở Sydney, kể lại quá trình hoà nhập với cuộc sống Úc của mình.

“Mình qua Úc hồi đầu năm 2010, đến nay là tròn 9 năm. Lúc đầu thì mình đi học, là sinh viên, sau đó tốt nghiệp xong cũng bắt đầu nghĩ đến việc… cuộc sống ở đâu thì phù hợp hơn. Lúc đó thì mình nghĩ là ở Úc thì mình cũng không biết là có thực sự phù hợp hay không, nhưng mà mình muốn thử.

“Cho nên mình bắt đầu tìm việc làm và cố gắng tăng số điểm để mà có visa ở lại. Càng ngày càng quen dần với cuộc sống ở đây thì tính đến nay là 9 năm. Mình vừa mới có được quốc tịch hồi tháng rồi.”

Nói về bản sắc Việt của mình, chị H. cho rằng dù đã sống ở Úc gần 10 năm, song chị vẫn cảm thấy mình “hoàn toàn là người Việt Nam.”

“Thú thật là sau 9 năm sống ở Úc thì mình vẫn thấy mình hoàn toàn là người Việt Nam. Mặc dù nói thật là khi về Việt Nam thăm gia đình hoặc đi chơi với bạn bè ở Việt Nam thì mình cũng cảm thấy là cách sống của mình cũng thay đổi khá nhiều so với mọi người ở đó.

“Nhìn lại quá trình sống ở Úc, mình cũng học được rất nhiều, chẳng hạn như cách cư xử với mọi người, hoặc là cách suy nghĩ cũng cởi mở hơn và cũng khác nhiều so với thời gian mình sống ở Việt Nam. Mình thấy quãng thời gian sống ở Úc đã dạy cho mình được nhiều điều. Tuy vậy, mình vẫn không thấy mình trở thành một người Úc hoàn toàn.” 

Còn anh Đ., một nhân viên y tế ở Melbourne, thì cho biết anh cảm thấy rất vui khi có được quốc tịch Úc.

“Mình qua Úc từ năm 2003 dưới hình thức là du học sinh trung học. Mình có quốc tịch từ khoảng năm 2015. Nói chung là vui vì mục tiêu chính của mình là có quốc tịch để được định cư tại Úc theo con đường hợp pháp nhất có thể.”

Thế nhưng anh cũng có quan điểm giống với chị H., rằng dù mang quốc tịch Úc, song anh vẫn xem mình là người Việt Nam “chính gốc”. 

“Mặc dù đã có quốc tịch Úc nhưng mà mình vẫn coi mình là người Việt, tại vì thực sự mình sinh ra và lớn lên ở Việt Nam.

“Mình có dịp may được qua Úc nên mình có thể tiếp thu được nền giáo dục của một nước tiến bộ như vậy thì mình rất là cảm ơn nước Úc, nhưng mà thực chất thì mình vẫn là dân Việt Nam chính gốc thôi.”

Chị Đ. sang Úc hồi năm 1997 và có quốc tịch hai năm sau đó, chia sẻ rằng chị luôn cố gắng dung hòa cái hay, cái đẹp của cả hai nền văn hóa.

“Mình là người Úc gốc Việt. Người Úc gốc Việt thì dù muốn dù không mình cũng không bỏ đi cái gốc của mình rồi. Nhưng mà nếu 100% Việt thì thực ra ở lâu thì cái suy nghĩ, cái quan điểm cũng thay đổi ít nhiều theo ảnh hưởng của người Úc.

“Với lại mình luôn theo quan điểm là cái gì hay của mình thì mình giữ lại, nhưng mà cái gì hay của người ta thì mình học hỏi theo. Cho nên từ quan niệm nuôi dạy con cái, về vấn đề đa sắc tộc, những cái đó mình cởi mở hơn và mình theo quan điểm của Úc nếu mà mình thấy nó hay.

“Còn quan điểm Việt Nam của mình còn nhiều cái phong kiến, bảo thủ thì những cái đó mình cảm thấy nó không thích hợp, thì mình sẽ bỏ qua. Cho nên mình cảm thấy là mình dung hòa được hai nền văn hóa.”

“Nếu mình sống ở nước người ta mà mình không nói được ngôn ngữ của người ta, thì mình sẽ bị gò bó rồi mình sẽ cảm thấy khoảng cách rất lớn.” – Chị Đ. (Melbourne)

Tuy nhiên, chị Đ. cho rằng khả năng sử dụng tiếng Anh là rất quan trọng trong việc xóa bỏ rào cản ngôn ngữ và giảm thiểu kỳ thị tại Úc. 

“Thời gian mới tới Úc, không biết tiếng Anh nhiều, rồi cũng không tiếp xúc, không mở rộng bên ngoài nhiều, tôi thấy không thay đổi gì nhiều lắm. Sống ở Úc nhưng mà quan điểm, suy nghĩ cũng không thay đổi gì nhiều, cũng không cảm thấy thích hợp lắm với nước Úc.

“Sau này bắt đầu đi học, đi làm, tiếp xúc với người Úc nhiều, mở rộng tầm nhìn ra ngoài, thì mình cảm thấy mình hòa đồng được hơn. Tôi nghĩ vấn đề ngôn ngữ là trở ngại lớn. Nếu mình sống ở nước người ta mà mình không nói được ngôn ngữ của người ta, thì mình sẽ bị gò bó rồi mình sẽ cảm thấy khoảng cách rất lớn, cảm thấy bị tách biệt, bị cô lập.

“Cho nên nếu mình xóa được rào cản ngôn ngữ thì tự dưng mình sẽ thấy sự gần gũi đối với nước Úc và mình cũng giảm thiểu đi được một số vấn đề kỳ thị hay là những vấn đề làm mình không vui.” 

“Cho dù mình sống ở Úc càng lâu thì mình cũng không thể nào biến mình hoàn toàn trở thành một người Úc được.” – Chị H. (Sydney)

Chị H. cũng kể rằng hồi mới qua Úc, chị rất tích cực giao tiếp với các bạn bè quốc tế nhằm cải thiện vốn tiếng Anh. Song sau một thời gian, chị dần quay lại nếp sinh hoạt cũ của người VIệt.

“Mình nhớ là thời kỳ đầu tiên khi mình mới qua Úc, mình muốn học và muốn cải thiện vốn tiếng Anh, nên mình ở với các bạn sinh viên quốc tế và người Úc rất nhiều. Nhưng càng ngày có vẻ như bản chất người Việt của mình vẫn kéo mình trở về.

“Mình vẫn không thể nào thay thế hoàn toàn được cách sống, vẫn ăn uống theo kiểu người Việt, sinh hoạt, gặp gỡ cộng đồng người Việt nhiều hơn, và bạn bè mình cũng là người Việt Nam nhiều hơn. Có thể nói là cho dù mình sống ở Úc càng lâu thì mình cũng không thể nào biến mình hoàn toàn trở thành một người Úc được, vẫn là người Việt Nam.”

Chị Đ. ví von tiếng Anh như là chiếc chìa khóa để mở ra những chiếc hộp đóng kín trong xã hội Úc.

“Có nhiều người nói với tôi rằng họ qua Úc lúc lớn tuổi rồi nên cảm thấy không cần thiết học tiếng Anh. Thì thực sự tôi cũng khởi điểm lúc tuổi cũng bắt đầu lớn. Nó khó chứ không dễ. Nhưng mà nhờ tôi xóa dần rào cản ngôn ngữ thì nó đã giúp ích mình rất nhiều, từ việc nuôi dạy con cái, xóa bỏ kỳ thị, dẫn tới sự hòa nhập văn hóa và làm cho mình bớt bị cô lập, bớt bị buồn tẻ.

“Bởi vì nhiều người nói ở Úc buồn như mà thực sự ra nó có nhiều cái rất là hay, giống như những cái hộp đóng kín mà mình cần những cái chìa khóa, đó là chìa khóa ngôn ngữ để mở những cái hộp đó ra, thì có rất nhiều điều hay để khám phá ở đó.”  

Nhìn chung, phần lớn người Việt đều bày tỏ lòng biết ơn đối với nước Úc, vì những đãi ngộ về xã hội, y tế hay giáo dục. Chị H. nói:

“Nước Úc đã cho mình sự tự do. Mình nhìn lại quá trình mình ở Úc, thì mình cũng có phần tự hào là mình đã cố gắng và làm việc để mình chọn được một cuộc sống tự do hơn.”

Còn anh Đ. thì chia sẻ rằng nếu chọn sống giữa Úc và Việt Nam, thì anh sẽ chọn sống ở Úc khi trẻ.

“Riêng độ tuổi mình thì mình nghĩ mình sẽ sống ở Úc nhiều hơn, tại vì thực sự có nhiều việc mà mình cảm thấy hợp lý hơn, ví dụ như an ninh xã hội tốt hơn, vấn đề y tế cũng tốt hơn, thì nó có thể giúp cho mình làm việc một cách tối ưu, và con mình sẽ hưởng được một nền giáo dục tốt.”

Thêm thông tin và cập nhật Like SBS Vietnamese FacebookNghe SBS Radio bằng tiếng Việt mỗi tối lúc 7pm tại  chúng tôi

Nên Hay Không Nên Giữ Quốc Tịch Việt Nam?

Việt Nam cho phép có hai quốc tịch

Năm 2008, Luật Quốc tịch Việt Nam được tu chính. Đặc biệt là Điều 4 trước đây quy định “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt nam có một quốc tịch là quốc tịch Việt nam” được bổ sung “trừ trường hợp Luật này có quy định khác”. Tu chính này có thể được diễn giải là truyền thống đơn tịch không còn áp dụng triệt để như trước đây.

Nếu như Luật Quốc tịch 1998 có ghi là “nguyên tắc một quốc tịch” thì Luật năm 2008 đã bỏ bớt chữ “một” và chỉ còn là “nguyên tắc quốc tịch”. Điều này cho thấy có sự mềm dẻo và linh hoạt hơn. Lý do chính có sự thay đổi này là vì nhà cầm quyền muốn thu hút người Việt định cư và có quốc tịch nước ngoài trở về đầu tư và làm ăn ở Việt Nam bằng cách tạo điều kiện cho họ hồi phục quốc tịch Việt nam mà vẫn giữ được quốc tịch nước ngoài.

Từ ngày 1/7/2009, người Việt Nam đã nhập quốc tịch nước ngoài nhưng vẫn mong muốn được trở thành công dân Việt Nam sẽ được đáp ứng.

Tuy nhiên, việc 2 quốc tịch chỉ áp dụng với một số ngoại lệ gồm: người được Chủ tịch nước cho phép, trường hợp xin trở lại quốc tịch Việt Nam, người Việt Nam định cư ở nước ngoài và đã nhập quốc tịch nước ngoài nhưng vẫn muốn nhập quốc tịch Việt Nam; trẻ em là con nuôi.

Luật Quốc tịch cũng cho phép người có vợ chồng, cha mẹ đẻ, con đẻ là công dân Việt Nam thì được nhập quốc tịch Việt Nam.

Trường hợp nếu không thuộc những diện trên thì công dân nước ngoài, người không quốc tịch đang thường trú ở Việt Nam muốn trở thành công dân Việt Nam phải có các điều kiện sau: Tuân thủ Hiến pháp và pháp luật; biết Tiếng Việt để có thể hòa nhập vào cộng đồng; thường trú từ 5 năm trở lên tính đến thời điểm xin nhập quốc tịch, và có khả năng bảo đảm cuộc sống ở Việt Nam…

Việc đăng ký giữ quốc tịch cũng được đề cập trong đạo luật trên. Theo đó người Việt Nam định cư ở nước ngoài mà chưa mất quốc tịch tính đến trước ngày 1/7/2009 thì vẫn còn quốc tịch Việt Nam. Và trong 5 năm kể từ thời điểm trên, họ phải đến đăng ký với cơ quan đại diện Việt Nam ở nước nơi người đó định cư để giữ quốc tịch. Nếu không đăng ký thì sẽ mất quốc tịch.

Luật Quốc tịch với 44 điều được Quốc hội Việt Nam thông qua ngày 13/11 và có hiệu lực từ 1/7/2009.

Luật song tịch trong Hiến pháp Úc

Úc cũng có truyền thống đơn tịch bắt đầu với Đạo luật Quốc tịch đầu tiên từ năm 1903 (Naturalization Act 1903). Luật Quốc tịch Úc đã trải qua nhiều đợt tu chính nhưng đến năm 2002 thì Đạo luật Tu chính Quốc tịch Úc (Australian Citizenship Legislation Amendment Act 2002) gạch bỏ Điều 17 của Luật Quốc tịch.

Điều 17 này quy định công dân Úc đương nhiên mất quốc tịch Úc khi nhập quốc tịch của một quốc gia khác. Có nghĩa là kể từ năm 2002 thì Luật Quốc tịch Úc công nhận tình trạng song tịch hoặc đa tịch.

Một công dân Úc đương nhiên mất quốc tịch Úc nếu tuyên thệ nhập tịch với một quốc gia khác trước ngày 4 tháng 4 năm 2002.

Sau ngày này thì phải làm đơn xin thôi quốc tịch Úc. Điều 33(1) của Đạo luật Quốc tịch Úc 2007 (Australian Citizenship Act 2007) ghi rõ là người muốn thôi quốc tịch Úc phải gửi đơn đến Tổng trưởng Di trú để duyệt xét.

Tổng trưởng phải trả lời đơn bằng văn bản chấp thuận hoặc từ chối và nguyên đơn chỉ mất quốc tịch Úc tính từ ngày có quyết định chấp thuận.

Cuối năm 2015, chính quyền Liên Bang có tu chính Luật Quốc Tịch nhằm tước bỏ quốc tịch Úc đối với những người phạm tội hoặc có liên can tới khủng bố. Luật này chỉ áp dung với công dân có hai quốc tịch.

Có quốc tịch Việt Nam thì lợi hại như thế nào?

Có hai lợi điểm chính là có thể đi lại dễ dàng giữa Úc và Việt nam mà không cần xin visa. Thứ hai là có thể mua bán, làm ăn, thành lập công ty, đứng tên thương vụ hoặc bất động sản tại Việt Nam mà không cần thông qua các thủ tục xin phép giành cho người nước ngoài.

Bên cạnh đó cũng có nhiều đìều bất lợi. Thứ nhất là có thể phải thì hành nghĩa vụ quân sự như các công dân Việt Nam khác. Kế tiếp là có thể phải khai và đóng thuế cho cả Úc và Việt Nam.

Nhưng điều nguy hiểm nhất là khi đụng chạm tới luật hình sự hoặc khi cần sự hỗ trợ của lãnh sự quán Úc ví dụ như trong trường hợp của ông Ernst Harlacher một người sinh ra tại Thuỵ sĩ nhưng đã di dân sống tại Melbourne trên 40 năm.

Ông Ernst đi Thụy sĩ để thăm bạn trong năm 2012 nhưng bị cảnh sát bắt vì được chẩn đoán mang bệnh lẫn (dementia). Theo luật Thụy sĩ thì những người mang bệnh lẫn bị buộc phải giam giữ trong bệnh viện. Lãnh sự Úc tại Thụy sĩ không can thiệp được vì ông vẫn còn giữ quốc tịch Thụy sĩ. Ông qua đời trong bệnh viện một năm sau đó.

Một trường hợp khác là Ben Zygier – một người có song tịch Úc-Do thái. Ben Zygier sinh ngày 9 tháng 12 năm 1976 tại Melbourne. Sau khi học xong đại học thì Ben gia nhập quân đội Do thái và thi hành nghĩa vụ quân sự. Sau đó Ben làm việc cho tổ chức tình báo Mossad của Do thái.

Không biết vì lý do gì mà Ben bị nhà nước Do thái bắt giam và giữ trong một phòng giam bí mật vào năm 2010. Gia đình của Ben cũng như lãnh sự quán Úc hoàn toàn không được cho biết bất cứ chi tiết gì. Mãi đến năm 2013 sau khi Ben tự tử trong tù thì vụ này mới được đưa ra ánh sáng.

“Những trường hợp gần với Việt nam nhất là những người Úc gốc Hoa khi về Trung quốc làm ăn bị bắt và tuyên án tù dài hạn. Nổi bật nhất là Stern Hu một giám đốc của đại công ty Rio Tinto. Chính quyền cộng sản Trung quốc không coi họ như là người Úc và Lãnh sự cũng như Bộ Ngoại giao Úc cũng không làm gì được”. LS Nguyễn Văn Thân

Trong khi những người Úc gốc Hoa đều nhận những bản án tù dài hạn nhiều năm thì một người Úc da trắng là ông Chris Mather chỉ bị lưu giữ 6 tháng với những cáo buộc tương tự.

Riêng đối với người Úc gốc Việt thì càng phải thận trọng hơn vì theo Điều 78 của Bộ Luật Hình sự Việt nam (đã được sửa đổi, bổ sung 2009) thì “công dân Việt Nam nào cấu kết với nước ngoài nhằm gây nguy hoại cho độc lập, chủ quyền…,chế độ xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thì bị phạt tù từ 12 năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình”.

Tương tự như vậy, Điều 79 quy định người nào tham gia tổ chức nhằm lật đổ “chính quyền nhân dân” thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình. Điều 88 quy định người nào “tuyên truyền xuyên tạc, phỉ báng chính quyền nhân dân thì bị phạt tù từ ba năm đến mưới hai năm và trường hợp nghiêm trọng thì từ mười năm đến hai mươi năm”.

Trong thời gian gần đây thì chính phủ Việt Nam lại đưa ra Điều luật 258 để buộc tội và bỏ tù những bloggers và những người sử dụng facebook và internet. Điều 258 quy định người nào “lợi dụng các quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do tín ngưỡng, tôn giáo, tự do hội họp, lập hội và các quyền tự do dân chủ khác xâm phạm lợi ích của Nhà nước…tổ chức, công dân thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm. Trường hợp nghiêm trọng thì phạt tù từ hai năm đến bảy năm”.

[Nguồn: SBS]

Song Tịch Hai Quốc Tịch

Đối với người Việt Nam định cư ở nước ngoài, vấn đề quốc tịch có ý nghĩa hết sức quan trọng. Phần đông cộng đồng người Việt Nam định cư ở nước ngoài mong muốn Nhà nước Việt Nam công nhận quy chế hai hay nhiều quốc tịch, nghĩa là vừa có quốc tịch Việt Nam, vừa có quốc tịch nước ngoài đặc biệt là quốc tịch của nước phát triển như Mỹ. Chính vì thế mà khi dự án Luật Quốc tịch Việt Nam (sửa đổi) được thông qua ngày 13/11/2008 đã mang đến niềm vui cho rất nhiều người Việt định cư tại nước ngoài vì được hưởng song tịch hai quốc tịch.

Phần đông cộng đồng người Việt Nam định cư ở nước ngoài mong muốn Nhà nước Việt Nam công nhận quy chế hai hay nhiều quốc tịch

Lợi ích của người song tịch hai quốc tịch

Trước tiên, lợi ích của người song tịch hai quốc tịch là được hưởng tất cả các ưu đãi, quyền lợi về kinh tế, chính trị, phúc lợi xã hội của cả hai quốc gia mà họ là công dân. Cụ thể là họ sẽ được sống, làm việc, được học tập, được chăm sóc sức khỏe, được đứng tên và sở hữu công ty, được sở hữu và mua bán bất động sản, được bão lãnh người thân, được quyền ứng cử, bầu cử…Đặc biệt, những người song tịch hai quốc tịch sẽ thuận tiện hơn trong việc việc xuất – nhập cảnh bởi họ không cần xin visa hoặc thẻ thường trú nhân vào nước mà họ đang giữ quốc tịch.

Ví dụ, khi bạn có quốc tịch Mỹ và Việt Nam, khi ra và vào Mỹ sử dụng hộ chiếu Mỹ, khi ra và vào Việt Nam phải sử dụng hộ chiếu Việt Nam. Tuy nhiên, khi check-in các hãng hàng không, bạn cần xuất trình cả hai hộ chiếu để chứng minh không cần visa cho nước sẽ bay đến như Mỹ hoặc Việt Nam.

Một số khối liên minh như châu Âu, Asian thì một người dù không được song tịch hai quốc tịch nhưng cũng được nhiều quyền lợi hơn hẳn so với công dân ngoài khối. Ví dụ, người có quốc tịch châu Âu sẽ không cần xin visa khi đi lại giữa các nước trong khối, đồng thời được toàn bộ các quốc gia Châu Âu bảo hộ khi ở nước ngoài. Hoặc khi bạn có hộ chiếu Việt Nam thì không cần xin visa đi lại giữa các nước trong ASEAN như Singapore, Lào, Myanma…

Một số khối liên minh như châu Âu, Asian thì một người dù không được song tịch hai quốc tịch nhưng cũng được nhiều quyền lợi hơn hẳn so với công dân ngoài khối.

Tuy nhiên, không phải quốc gia nào trên thế giới cũng công nhận một người có thể được song tịch hai quốc tịch (tức là được giữ 2 quốc tịch cùng một lúc). Một số nước quy định nếu bạn xin nhập tịch một quốc gia khác, thì bạn sẽ bị mất quốc tịch của quốc gia trước đó như Bỉ, Trung Quốc, Ðan Mạch, Phần Lan, Ðức, Nhật, Úc, Singapore. Nhưng nếu bạn mang quốc tịch của các nước Anh, Pháp, Canada, Hoa Kỳ, Ba Lan, Nga, Thụy Sĩ, Thái Lan và một số nước khác thì bạn không bị mất quốc tịch của nước này.

Một số hạn chế của người song tịch hai quốc tịch

Bên cạnh những quyền lợi đáng kể được nêu trên của người song tịch hai quốc tịch thì họ cũng phải đáp ứng những quy định của những quốc gia mà họ có quốc tịch như khai thuế, nộp thuế, thực hiện nghĩa vụ quân sự, tuân thủ pháp luật hoặc quy định. Chính điều này cũng gây một vài lúng túng cho họ.

Ví dụ như, ở Việt Nam không có quy định chặt chẽ về độ tuổi được sử dụng, mua bán thuốc lá, chất có cồn như bia, rượu mạnh. Nhưng nếu bạn có thêm một quốc tịch nữa như Mỹ, khi đến những nơi công cộng tại Mỹ, độ tuổi được uống rượu bia và hút thuốc là từ 21 tuổi trở lên. Và bảo vệ của những quán bar sẽ kiểm tra số tuổi của bạn căn cứ trên ID/hộ chiếu hoặc bằng lái xe. Hoặc nếu ở các nước châu Âu, bạn không được tự tiện hút thuốc ở những nơi đã ghi biển “không hút thuốc hoặc cấm thuốc lá”, nếu không bạn sẽ bị phạt hành chính.

Cơ hội sở hữu song tịch hai quốc tịch (Việt Nam và Mỹ) bằng đầu tư EB-5

Có nhiều cách để nhập tịch Mỹ một cách chính thống như kết hôn với người có quốc tịch Mỹ, được người thân như ba mẹ, anh chị em ruột bảo lãnh. Tuy nhiên, nếu bạn không có người thân tại Mỹ hoặc không kết hôn với người Mỹ thì bạn có thể nhập tịch Mỹ bằng hình thức đầu tư EB-5. Đây là chương trình của Chính phủ Mỹ do chính Tổng thống Barack Obama phê duyệt. Hiện tại, đã và đang có nhiều gia đình Việt Nam chọn con đường này để nhập quốc tịch Mỹ, đây cũng là cơ hội tốt để các chủ doanh nghiệp Việt Nam mở rộng và phát triển kinh doanh tại Mỹ.

Với chương trình EB-5, nhà đầu tư cùng chồng/vợ và các con độc thân dưới 21 tuổi được song tịch hai quốc tịch tức là được hưởng đầy đủ quyền lợi của công dân Mỹ như sinh sống, học tập và làm việc tại bất cứ nơi nào tại Mỹ, ra vào Mỹ không cần visa, được song tịch hai quốc tich, được hưởng nền học vấn, chất lượng cuộc sống văn minh, hiện đại và chế độ phúc lợi tốt nhất thế giới.

Ý Nghĩa Và Vẻ Đẹp Của Sắc Hoa Anh Đào Nhật Bản

Biểu tượng của sức sống mãnh liệt

Hoa anh đào không đẹp khi đứng một mình, nó chỉ trở nên đẹp đẽ khi nở rộ thành một mảng: mong manh, rực rỡ. Và chính bản thân nó đã mang đến một thông điệp: con người dù ở hoàn cảnh khốn cùng nhất, vẫn luôn phải vươn lên, không bao giờ được đầu hàng số phận.

Với Nhật Bản, sức sống trước hết chính là tinh thần võ sĩ đạo, thể hiện ngay khi họ đứng trước cái chết. Trong chiến tranh, những võ sĩ của xứ sở mặt trời mọc không bao giờ run sợ trước cái chết, mỗi khi thua trận, họ liền tự kết liễu để không khai ra đồng đội của mình.

Trong thế chiến thứ 2, sau khi trải qua những tổn thất nặng nề của chiến tranh, hoa anh đào càng được coi là biểu tượng của một Nhật Bản đau thương nhưng vững vàng với tinh thần đoàn kết, phấn đấu, không ngại gian khổ. Kết quả là từ một nước thảm bại trong chiến tranh, không có tài nguyên thiên nhiên, Nhật Bản đã trở thành một cường quốc đứng hàng đầu trên thế giới. Nhiều người Nhật nói rằng, giữa cảnh hoang tàn, đói khát sau chiến tranh, họ tưởng chừng gục ngã. Nhưng vẻ đẹp rực rỡ của hoa anh đào lại tiếp cho họ thêm sức mạnh, và họ đồng lòng cùng nhau vực dậy một nước Nhật như ngày hôm nay. Người Nhật đã chứng minh cho thế giới rằng, nếu biết phát huy sức mạnh của từng cá nhân, biết liên kết vạn người như một thì sức sống mãnh liệt ấy sẽ trở thành tài sản vô cùng quý báu của bất kỳ quốc gia nào.

Biểu tượng của vẻ đẹp đặc trưng Nhật Bản

Xuất hiện tại nhiều nước Đông Á như Trung Quốc, Hàn Quốc và thậm chí là tại những vùng đất châu Mỹ xa xôi, nhưng nhắc đến hoa anh đào là mọi người nghĩ ngay đến Nhật Bản. Tại đây, hơn 200 loài hoa anh đào đã được phát hiện, từ loài cây dại mọc trên núi cho đến những giống cây được chăm chút cầu kì, tỉ mỉ. Có loại màu trắng, có loại phơn phớt vàng nhưng nhiều nhất và đẹp nhất vẫn là anh đào màu hồng phấn.

Những ngày đầu tháng 4, nhiều thành phố lớn ở Nhật Bản lại hồng rực một màu hoa anh đào. Cả một màu hồng phấn ôm trọn lấy núi đồi, lan tỏa khắp phố phường tượng trưng cho một mùa lãng mạn và đẹp nhất: mùa hoa anh đào. Hoa anh đào mọc ở Triều Tiên và Mỹ không có mùi hương nhưng Nhật Bản, người ta ngợi ca hương thơm của hoa anh đào trong những vần thơ. Hoa anh đào nở báo hiệu mùa xuân đến và cũng báo hiệu một mùa lễ hội lớn trong năm của Nhật Bản: Lễ hội hoa anh đào – một dịp để mọi người tụ tập trong các buổi tiệc ngắm hoa.

Tại Tokyo, người ta còn dành cả một ngày hoa anh đào nở đẹp nhất để đưa gia đình đi dã ngoại, ngắm hoa. Ngồi dưới những tán anh đào nở bung, vừa uống rượu Sake, nhấm nháp đồ ăn,vừa vui vẻ trò chuyện. Đó là khoảnh khắc quây quần hạnh phúc hiếm hoi trong quỹ thời gian làm việc kín mít của người Nhật.

Hoa anh đào đẹp đẽ như thế nhưng lại nở rồi tàn trong thời gian rất ngắn, chỉ khoảng 1 tuần khiến nhiều người tiếc nuối. Chỉ cần 1 cơn gió thoảng qua là cánh hoa đã nhẹ nhàng lìa cành, vì vậy đối với người Nhật, hoa anh đào đồng nghĩa với bản chất mong manh, ngắn ngủi của vẻ đẹp thanh xuân và cuộc sống. Lúc hoa anh đào cũng là lúc sắc hoa vẫn còn tươi thắm. Vì lẽ đó nó đã trở thành biểu tượng của cái đẹp đối với bất cứ người Nhật nào.

Đối với người Nhật Bản, hoa anh đào không chỉ tượng trưng cho sức sống, vẻ đẹp mà còn là biểu tượng của tính khiêm nhường, nhẫn nhịn – một đức tính đặc trưng của dân tộc này.

Nước Nhật tặng hoa anh đào cho các nước khác trên thế giới như một cách để thể hiện mong muốn được chung sống hòa bình. Trong cuộc sống dân gian, người dân sử dụng hoa anh đào như một món ăn thường nhật. Hoa anh đào làm mứt, lá cây muối ăn kèm với cơm nắm, cuộc sống của người dân nơi đây luôn có sự hiện diện của hoa.

Một quy tắc bất thành văn là “người dưới” bao giờ cũng phải chào “người trên” trước và theo quy định đó thì người lớn tuổi là người trên của người ít tuổi, nam là người trên đối với nữ, thầy là người trên (không phụ thuộc vào tuổi tác, hoàn cảnh), khách là người trên..

Bất kỳ lời nói, cử chỉ nào của người Nhật kể cả sự thúc giục hay từ chối cũng đều mang dấu ấn của sự lịch thiệp, nhã nhặn. Vì người Nhật có ý thức tự trọng cao nên họ đặc biệt tránh trở thành kẻ lố bịch, không đúng mực, khiếm nhã khi giao tiếp.

Người Nhật rất chú trọng làm sao cho người đối thoại cảm thấy dễ chịu. Họ không bao giờ muốn làm phiền người khác bởi những cảm xúc riêng của mình, cho dù trong lòng họ đang có chuyện đau buồn nhưng khi giao tiếp với người khác họ vẫn mỉm cười. Đó chính là tính cách khiêm nhường như một bông hoa anh đào sẵn sàng rụng xuống dù đang ở độ xuân sắc nhất.

Để biết thêm thông tin về Du lịch Nhật Bản xin vui lòng liên hệ:T&T Travel Địa chỉ: số 9A Nam Quốc Cang Q1 TP.HCM Tel: +84(8) 3925 6331 Hotline: +84 944 096 699 Website:http://www.tnt-vietnam.com/

Bạn đang đọc nội dung bài viết Quốc Tịch Úc Và Bản Sắc Của Người Việt trên website Shareheartbeat.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!