Đề Xuất 6/2022 # Nấm Ngọc Châm Hypsizigus Marmoreus # Top Like

Xem 5,940

Cập nhật nội dung chi tiết về Nấm Ngọc Châm Hypsizigus Marmoreus mới nhất ngày 30/06/2022 trên website Shareheartbeat.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Cho đến nay, bài viết này đã thu hút được 5,940 lượt xem.

--- Bài mới hơn ---

  • Ăn Bánh Nabati Có Béo Không ? Bánh Nabati Ăn Như Nào Để Ko Mập
  • Hạt Hạnh Nhân Tẩm Vị
  • Ô Liu Có Thể Giúp Bạn Giảm Cân?
  • Phở Gạo Lứt Hữu Cơ
  • Bánh Pancake Có Bao Nhiêu Calo, 15 Sai Lầm Trong Bữa Sáng Làm Bạn Tăng Cân
  • Nghiên cứu ảnh hưởng của môi trường nguyên liệu đến quá trình sinh trưởng phát triển và năng suất của nấm ngọc châm hypsizigus marmoreus

    MỤC LỤC

     

    Lời cảm ơn. i

    Tóm tắt v

    PHẦN I: MỞ ĐẦU.. 3

    1.1 Mục tiêu đề tài: 4

    1.2 Yêu cầu: 4

    PHẦN II: TỔNG QUAN TÀI LIỆU.. 5

    2.1 Vai trò của nấm trong tư nhiên và đời sống con người. 5

    2.1.1 Vai trò của nấm trong tự nhiên. 5

    2.1.2 Vai trò của nấm trong đời sống con người 6

    2.1.2.1 Giá trị dinh dưỡng của nấm.. 6

    2.1.2.2 Giá trị dược liệu của nấm. 8

    2.1.2.3 Lợi ích kinh tế của nấm. 10

    2.1.3 Sự phát triển của nghề trồng nấm. 11

    2.1.3.1 Sự phát triển của nghề trồng nấm trên thế giới. 11

    2.1.3.2 Sự phát triển nghề trồng nấm ở Việt Nam.. 12

    2.1.4 Đặc điểm sinh học nấm Ngọc Châm.. 14

    2.1.4.1 Nấm Ngọc châm trong hệ thống phân loại 15

    2.1.4.2 Đặc điểm hình thái 15

    2.1.4.3 Điều kiện sinh trưởng và phát triển của nấm Ngọc Châm. 16

    PHẦN III: VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.. 19

    3.1 Nội dung nghiên cứu. 19

    3.2 Đối tượng nghiên cứu. 19

    3.3 Nguyên liệu. 19

    3.4 Các điều kiện chuẩn bị cho thí nghiệm.. 20

    3.4.1 Địa điểm.. 20

    3.4.2 Bố trí thí nghiệm.. 20

    3.4.3 Điều kiện thiết bị cho thí nghiệm.. 20

    3.5 Phương pháp nghiên cứu. 21

    3.5.1 Xử lý nguyên liệu. 22

    3.5.2 Phối trộn phụ gia. 23

    3.5.3 Đóng bịch. 24

    3.5.4 Thanh trùng bịch. 24

    3.5.5 Cấy giống. 25

    3.5.6 Ươm sợi 26

    3.5.7 Chăm sóc thu hái 27

    PHẦN IV: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN.. 29

    4.1 Giai đoạn nuôi sợi. 29

    4.1.1 Ảnh hưởng của môi trường nguyên liệu đến tốc độ sinh trưởng và phát triển của hệ sợi nấm   29

    4.1.1.1 Khả năng sinh trưởng và phát triển của hệ sợi nấm.. 29

    4.1.1.2 Mật độ phát triển của hệ sợi 31

    4.1.1.3 Khả năng nhiễm bịch ươm.. 33

    4.1.2 Ảnh hưởng của nhiệt độ đến tốc độ sinh trưởng và phát triển của hệ sợi nấm.. 35

    4.1.3 Ảnh hưởng của độ ẩm đến tốc độ sinh trưởng và phát triển của hệ sợi nấm.. 38

    4.2 Giai đoạn ra quả thể. 40

    4.2.1 Ảnh hưởng của môi trường nguyên liệu đến sự hình thành và phát triển của quả thể nấm   40

    4.2.2 Ảnh hưởng của nhiệt độ đến tới sự hình thành và phát triển của quả thể nấm.. 41

    4.2.3 Ảnh hưởng của độ ẩm môi trường tới sự hình thành và phát triển của quả thể nấm   43

    4.2.4 Ảnh hưởng của của phương thức cạo bịch đến quá trình hình thành quả thể. 45

    4.3 Kết quả nghiên cứu về năng suất của nấm Ngọc Châm. 46

    PHẦN V: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ. 48

    5.1 Kết luận. 48

    5.2 Đề nghị 48

     

    PHẦN I: MỞ ĐẦU

     

    Ở Việt Nam cũng như trên thế giới, nấm ăn được biết đến từ hàng ngàn năm do có mùi vị và hương thơm hấp dẫn. Không những thế nhiều công trình nghiên cứu đã cho thấy nấm ăn có giá trị dinh dưỡng cao, không chỉ giàu hàm lượng protein, glucid, lipid, mà còn chứa rất nhiều các chất khoáng, đặc biệt là các axit amin không thay thế, các vitamin thiết yếu như A, B, C, D, E…Trong y học, nấm ăn được biết đến như một phương thuốc để: điều hòa huyết áp, chống béo phì, tăng sức đề kháng, phòng chống ung thư. Nấm còn được coi như một loại “rau sạch”, “thịt sạch”, do không trồng trên đất, không phải bón phân, không phun thuốc trừ sâu, thời gian trồng và thu hoạch rất nhanh, nên các sản phẩm dễ dàng đạt tiêu chuẩn “rau sạch”. Hơn thế, trồng nấm là một công việc không phức tạp, nguyên liệu dễ kiếm. Trước hết, nó cung cấp nguồn thực phẩm phục vụ tiêu dùng hàng ngày. Nếu trồng nhiều có thể bán nấm tươi, chế biến muối, phơi sấy khô, tạo nguồn thu nhập đáng kể cho gia đình và xã hội. Phế thải sau thu hoạch hết nấm thì chuyển sang làm phân bón, chất đốt…

    Sản xuất nấm là một trong những nghề rất phù hợp với nông nghiệp, nông thôn nước ta. Mỗi năm, nếu tính sản lượng rơm rạ, bã mía, thân lõi ngô, mùn cưa, bông phế loại ở các nhà máy dệt, cây gỗ, cỏ…đạt trên 40 triệu tấn. Đây là nguồn nguyên liệu dồi dào để trồng nấm mà không phải quốc gia nào trên thế giới cũng có được. Hàng triệu lao động trong nông nghiệp và cả ở các thành phố, thị xã, thị trấn, đều có thể tham gia sản xuất nấm. Những điều kiện khác như: vốn đầu tư, khoa học công nghệ, thời tiết khí hậu và đặc biệt thị trường tiêu thụ cả nội tiêu và xuất khẩu hoàn toàn cho phép chúng ta nhanh chóng phát triển sản xuất nấm trên quy mô lớn.

    Hiện nay Trung Tâm Công Nghệ Sinh Học Thực Vật – Viện Di Truyền Nông Nghiệp đang nuôi trồng một loại giống nấm mới: nấm Ngọc Châm (Hypsizygus marmoreus H.E. Bigelow) có nguồn gốc từ Nhật Bản. Trên thị trường tiêu thụ trong nước, các loại nấm cao cấp như: đùi gà, nấm kim châm, nấm ngọc châm, nấm trà tân…có giá bán rất cao gấp 2 đến 3 lần các lại nấm ăn thông thường. Nhận thấy tiềm năng phát triển, giá trị kinh tế của nấm Ngọc Châm đem lại nên việc nghiên cứu và phát triển giống nấm này ở Việt Nam là điều kiện cần thiết, đa dạng hóa chủng nấm và góp phần thúc đẩy nghề nuôi trồng nấm. Việc chọn nguyên liệu trong sản xuất nấm là một khâu rất quan trọng trong việc tăng năng suất, chất lượng nấm sản phẩm. Nguyên liệu đạt yêu cầu cần phải có đặc điểm sau: có nhiều ở địa phương, dễ bảo quản và chế biến, cho năng suất chất lượng nấm cao. Vì vậy với sự giúp đỡ của Thầy Ngô Xuân Nghiễn cùng tập thể cán bộ công nhân viên của Viện Di Truyền Nông Nghiệp, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Nghiên cứu ảnh hưởng của môi trường nguyên liệu đến quá trình sinh trưởng, phát triển và năng suất của nấm ngọc châm (Hypsizigus marmoreus H.E. Bigelow)”.

    1.1 Mục tiêu đề tài:

    –         Bước đầu so sánh, đánh giá tốc độ sinh trưởng, phát triển và năng suất của chủng nấm Ngọc Châm trên các loại nguyên liệu với tỷ lệ khác nhau từ đó tìm ra tỷ lệ các loại nguyên liệu thích hợp nhất.

    –         Khảo sát ảnh hưởng môi trường xung quanh (ngoại cảnh) tới sự sinh trưởng, phát triển, tỷ lệ nhiễm bệnh và năng suất của chủng nấm Ngọc Châm nghiên cứu.

    1.2 Yêu cầu:

    –         Xây dựng được công thức phối trộn dinh dưỡng cho việc nuôi trồng nấm ngọc châm để đạt được năng xuất và chất lượng cao

    –         Theo dõi được quá trình sinh trưởng và phát triển của nấm ngọc châm.

     

     

     

     

     

     

     

    PHẦN II: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

     

    2.1 Vai trò của nấm trong tư nhiên và đời sống con người.

    2.1.1 Vai trò của nấm trong tự nhiên.

    Nấm trong vị trí phân loại sinh học: hiện nay hệ thống phân loại của R.H.Whiteker (1969) trong hệ thống phân loại giới là được chấp nhận, theo hệ thống này thì giới được chia làm 5 giới:

     

     

    Ngoài ra còn có hệ thống phân loại của A.L.Takhtadjan (1973) chia giới thành 4 giới sau:

    Giới Mycota: gồm vi khuẩn và vi khuẩn lam;

    Giới Nấm;

    Giới thực vật;

    Giới động vật.

    Dù theo quan điểm nào thì nấm vẫn được coi như một giới riêng tương đương với giới thực vật và động vật trong hệ thống phân loại.

    Hầu hết các loại nấm không có khả năng quang hợp như thực vật do đó nấm không có đời sống tự dưỡng (Autroph) mà có đời sống dị dưỡng (Hetetroph). Cũng như các vi sinh vật, nấm đóng vai trò quan trọng như là một khâu trong chu trình tuần hoàn các vật chất tự nhiên: phân hủy các hợp chất phức tạp thành các hợp chất đơn giản hơn và các chất vô cơ, trả lại nguồn dinh dưỡng cho đất.

    Nấm giải quyết vấn đề phế thải trong hành tinh chúng ta và khắc phục những “vết thương” của thiên nhiên do con người tạo ra trong hoạt động sống của mình. Hơn một nửa tổng lượng sinh khối do cây cối sản sinh ra chưa được sử dụng, chủ yếu là rơm rạ, thân cây, cành nhỏ, gốc rễ cây và cả những phế liệu, phế loại của các nhà máy công nghiệp. Hiện nay, Nhiều nước đã xây dựng công nghệ nuôi trồng nhiều loại nấm có chất lượng trên các loại nguyên liệu này. Ở một số nước ta bắt đầu xử lý rác thải của các thành phố và khu vực đông dân cư để làm giá thể nuôi trồng nấm.

    Một khía cạnh cực kỳ quan trọng của nấm ăn là vai trò của chúng trong nghề trồng rừng. Cho tới nay chúng ta đã biết được hàng trăm loài nấm có quan hệ cộng sinh vời hàng chục họ thực vật bậc cao bao gồm các cây gỗ rừng, cây ăn quả, cây cảnh, cây thuốc cũng như cây lương thực. Ý nghĩa kinh tế của nấm trong nghề trồng rừng không chỉ là về sản lượng thu hái hàng năm mà nấm còn đóng vai trò quan trọng trong việc trồng lại rừng ở những vùng hoang mạc cũng như các vùng đồi núi trọc rộng lớn. Những công trình nghiên cứu gần đây đã chỉ ra rằng, một trong nhưng biện pháp quan trọng bậc nhất của nghề trồng rừng, là trồng thông non đã chủ động tạo ra rễ nấm, nhiều vùng rừng của nước ta cũng như cả những vùng rừng trên thế giới đều được cải tạo bằng con đường này.

    2.1.2 Vai trò của nấm trong đời sống con người

    2.1.2.1 Giá trị dinh dưỡng của nấm

    Ngoài các đặc điểm như nhiều đạm, ít mỡ, ít calo, nấm ăn còn có các chất có ích cho cơ thể như đa đường, khoáng và sinh tố. Chất đạm của nấm ăn, của thực vật, của động vật sẽ là nguồn đạm quan trọng của loài người sau này.

    Theo phân  tích của các nhà khoa học, trong chất hữu cơ của 112 loài nấm ăn, hàm lượng bình quân của protein là 25%, lipid 8%, gluxit 60% (trong đó đường 58%, xơ 8%), chất tro 7%. Hàm lượng chất hữu cơ trong mỗi loài nấm ăn có sự khác nhau rất nhiều, có quan hệ mật thiết với ngoại cảnh và điều kiện sống.

    ● Protein

    Hàm lượng protein có chứa trong hầu hết các loại nấm đều rất cao (nấm mỡ 47,42% tính theo chất khô, nấm rơm 33,77%…). Không những thế, protein của nấm lại có chứa khoảng 17 – 19 loại axit amin như leucine, iso leucine, tyrosin, methionine, phenylalaline, lysine, histidine, arginine, cystine, tryptophane, asparagine, threonine, glutamine, proline, glycine, alanine, valine, trong đó có  9 loại axit amin cần thiết cho cơ thể con người, những loại đó có rất ít trong thức ăn từ thực vật. Theo tài liệu thống kê thì Nấm Mỡ, Nấm Hương, Nấm Kim Vàng, Nấm Đầu Khỉ, Nấm Mộc Nhĩ…hàm lượng axit amin cần thiết chiếm 40,53% tổng hàm lượng axit amin.

    Axit nucleic

    Axit nucleic là hợp chất cao phân tử có tác dụng quan trọng trong quá trình sinh trưởng và sinh sản của cơ thể sinh vật cũng là vật chất cơ bản của di truyền, (Trương Thụ Đình, 1982) trong Nấm Rơm, Nấm Sò…hàm lượng axit nucleic đạt tới 5,4 – 8,8% (khô) nhưng có sự biến đổi theo từng giai đoạn sinh trưởng.

    Lipid

    Hàm lượng chất béo thô trong nấm ăn dao động từ 1-20% theo trọng lượng thô và tất cả đều thuộc các axit béo không no.

    ● Gluxit và xenlulo

    Trong nấm ăn có tới 30 – 93% là gluxit, gluxit trong nấm ăn không chỉ là chất dinh dưỡng mà còn là chất đa đường (polysacchride) và hợp chất của chất đa đường có tác dụng chữa bệnh, nhất là chống khối u. Xenlulo trong nấm ăn chiếm khoảng 2,5 – 21,5%, trung bình là 8%, chúng có tác dụng làm giảm lượng cholesterol trong máu nhờ thế mà chống được sỏi thận và huyết áp cao.

    ● Vitamin và chất khoáng

    Các vitamin có trong nấm, những loại tuy chỉ cần với lượng nhỏ song không thể thiếu được trong các hoạt động trao đổi chất của cơ thể, cũng rất phong phú. Chúng bao gồm các vitamin  nhóm B như B1, B2, B6, B12, vitamin C, PP…Trong nấm rơm, hàm lượng vitamin C đạt 206,27 mg/100g tươi và chỉ cần ăn 3 – 4g nấm hương khô là đáp ứng được nhu cầu vitamin D trong 1 ngày

    Nấm ăn còn chứa nhiều loại khoáng chất mà cơ thể người dễ hấp thu, trong đó bao gồm rất nhiều nguyên tố vi lượng không thể thiếu trong hoạt động trao đổi chất của cơ thể của con người như canxi, sắt, mangan, kẽm, nhôm, silic, đồng, magie, clo, natri, kali. Đặc biệt là không có các độc tố. Do vậy nấm được coi như là một loại rau sạch và thịt sạch cần được sử dụng trong các bữa ăn hàng ngày. ở nhiều nước tiên tiến trên thế giới người ta quý nấm hơn thịt.

    2.1.2.2 Giá trị dược liệu của nấm.

    Theo thống kê, trên thế giới có khoảng 250000 loài nấm,với gần 300 chủng nấm có giá trị dược liệu nhưng hay sử dụng nhất chỉ có khoảng 20 – 30 loại. Ngoài việc cung cấp thực phẩm, một số loại nấm ăn còn có giá trị làm thuốc chữa bệnh. Ngày nay các nhà khoa học thống kê được có trên 60 loại kháng sinh từ nấm, nhưng chưa ứng dụng được nhiều vì chúng có hoạt tính thấp. Nấm sinh ra các chất có tính kháng sinh để tăng tính cạnh tranh trong môi trường sống tự nhiên. Các hợp chất có tính kháng sinh là các polyacetylen, hợp chất chứa phenol, purin, quinon.

    Nấm ăn có chứa sắt, các chất vitamin, canxi và protein. Chúng rất tốt cho các bà mẹ mang thai và bệnh nhân tiểu đường, bệnh nhân cao huyết áp. Nấm ăn có các đặc tính dược học và được biết đến như là thuốc chữa bệnh về máu, tim mạch, giải độc cho gan…(Nguyễn Hữu Nống, 2005)

    ● Tác dụng chống khối u

                Nấm có giá trị chữa bệnh do hầu hết nấm có chứa chất đa đường. Ở Nhật Bản người ta chiết xuất chất đa đường từ bào tử nấm để chống khối u, khả năng chống khối u trên cơ thể đạt 80 – 90% có ở 8 loại nấm. Hiện nay các chất đa đường của nấm Linh Chi, Trư Linh, Nấm Hương đã được chiết xuất và chế thành thuốc sử dụng trên lâm sàng tại nhiều bệnh viện để phòng trừ ung thư. (Trương Thụ Đình, 1981)

    ● Tăng cường khả năng miễn dịch của cơ thể

                Các chất đa đường chiết xuất từ nấm có tác dụng khôi phục và tăng khả năng hoạt động của tế bào lympho. Dịch chiết Linh Chi có tác dụng làm tăng hoạt lực cơ thể, một số còn có tác dụng trong điều trị viêm gan, viêm phế quản mãn tính và một số bệnh viên phổi khác. Các nhà khoa học Trung Quốc đã chứng minh tác dụng khả năng tăng cường miễn dịch của nấm Linh Chi, Vân Chi, Mộc Nhĩ Trắng,…

    ● Tác dụng điều trị tim mạch

    Sử dụng quả thể Nấm Mộc Nhĩ Trắng, Mộc Nhĩ Đen có tác dụng chữa bệnh đau nhói, đau thắt tim, dùng lâu sẽ khỏi bệnh. Linh Chi và Nấm Hương có tác dụng hạ hàm lượng mỡ và cholesterol trong máu. Nấm Phục Sinh và Mộc Nhĩ  có tác dụng tăng sức bóp cho cơ tim, ức chế tích tụ của tiểu cầu, có lợi cho việc hạn chế xơ cứng động mạch.

    Chất purine chiết xuất từ Nấm Hương có tác dụng hạ hàm lượng mỡ trong máu rất mạnh, so với thuốc làm giảm hàm lượng mỡ thông thường như antonin thì mạnh gấp 10 lần (Tôn Bồi Long, 1997). Các nhà khoa học Nhật có bản khuyến cáo dùng thường xuyên 9 gam nấm hương khô/ ngày có tác dụng giảm cholesterol trong máu và phòng chống xơ cứng động mạch.

    Đa số nấm ăn đều có tác dụng làm giảm huyết áp hoặc không gây tăng huyết áp như: Nấm Mỡ, Nấm Rơm, Nấm Kim Châm, Mộc Nhĩ… Đặc biệt Nấm Linh Chi có tác dụng đặc hiệu với bệnh cao huyết áp.

    ● Tác dụng giải độc gan, bổ dạ dày

    Sử dụng chất đa đường chiết xuất từ Linh Chi, Nấm Hương có tác dụng bổ gan, khống chế hiệu quả đối với viêm gan do virus đạt hiệu quả 97 – 98%, bổ trợ việc điều trị ung thư gan (Lâm Chí Bân, 2000). Trung Quốc chế biến thành công viên nhộng nấm rơm (Armillaricllo tablescens) điều trị bệnh viêm túi mật, viêm gan mãn, cấp có kết quả tốt.

    Thành phần hóa sinh của nấm đầu khỉ (Hericium erinaceus) có tác dụng bổ ngũ tạng, giúp tiêu hóa tốt, chống viêm loét dạ dày. Nấm sò có các loại hoạt tính “bình khí, sát trùng” bởi trong nấm có nhiều loại axit amin, mannose có tác dụng phòng trị đối với chứng viêm gan, loét dạ dày, sỏi niệu đạo và sỏi túi mật. Nấm kim châm chứa nhiều arginine và lysine có tác dụng tương tự.

    ● Tác dụng hạ đường huyết

    Đái tháo đường là một trong ba bệnh quan trọng đang uy hiếp sức khỏe con người chỉ sau tim mạch và ung thư. Hoạt chất đa đường của mộc nhĩ trắng có tác dụng làm giảm tổn hại đến tế bào tuyến tụy, gián tiếp làm hạ đường trong máu. Các nhà khoa học Nhật Bản dùng nấm Đông Cô Trùng Hạ Thảo để kích thích tuyến tụy tiết ra chất pancreatin làm hạ đường huyết, chất đa đường Ganoderma A và Ganoderma C trong nấm Linh Chi có tác dụng làm giảm lượng đường trong máu.

    ● Tác dụng chống phóng xạ, khử gốc tự do

                Khi phẫu thuật khối u bằng phẩu thuật hoặc chạy tia phóng xạ, dùng nấm ăn như Nấm Hương, Linh Chi, Mộc Nhĩ Trắng có tác dụng bồi bổ cơ thể, giảm đau và kéo dài tuổi thọ người bệnh.

    Nấm Linh Chi có hoạt chất tryterpen, Nấm Mộc Nhĩ Đen có chất đa đường làm tăng hoạt lực của men oxy hóa (supperoxide dismutase) các chất này đều có tác dụng loại trừ được các gốc tự do – O­­2 và hydroxit – OH. (Đinh Xuân Linh và cộng sự, 2008)

    2.1.2.3 Lợi ích kinh tế của nấm.

    Việc trồng nấm hiện nay đem lại hiệu quả kinh tế rất cao. Trong từng gia đình với diện tích nhỏ hay lớn đều có thể trồng được nấm để ăn và bán. Nếu trồng nấm trong nhà và dùng nguyên liệu là rơm, rạ kê giàn thành 5 tầng thì cứ 1m2 thu được 7 – 10kg nấm tươi, nếu trồng ở ngoài trời thì 1m2 đất thu được ít nhất là 1kg nấm tươi.

    Nấm có chu kỳ nuôi trồng ngắn và rất ngắn, ví dụ: Nấm Rơm 20 – 25 ngày, Nấm Hương, Mộc Nhĩ 60 – 75 ngày. Vì thế khi gặp khí hậu không thuận hoặc biến động của thị trường thì người sản xuất vẫn có thể dừng lại hoặc chuyển hướng canh tác. Đây là lợi thế của nghề trồng nấm.

    Nguyên liệu trồng nấm thường rẻ (phế liệu nông nghiệp, lâm nghiệp, công nghiệp) và có rất nhiều ở mọi miền đất nước. Sau khi thu hoạch vụ nấm, có thể sử dụng cho chăn nuôi và trồng trọt (như làm phân hữu cơ).

    Nấm là loại thực phẩm có giá trị xuất khẩu cao:

    Nấm rơm, nấm mỡ muối: 1.200 – 1.300 USD/tấn

    Mộc nhĩ khô: 3.500 – 4.300 USD/tấn

    Nấm hương khô: 12.000 – 13.000 USD/tấn

    Nấm sò khô: 6.000 – 7.000USD/tấn

    (Tài liệu của TTKTTM ngoại thương, số 21,5/1996)

    Trồng nấm không những cải thiện đời sống của nhân dân ta, bổ sung cho khẩu phần ăn hàng ngày, góp phần bảo vệ và nâng cao sức khỏe cho cộng đồng mà còn giải quyết được lao động nhàn rỗi ở các địa phương, tạo việc làm và nguồn thu nhập đáng kể trong tình hình lao động hiện nay.

    2.1.3 Sự phát triển của nghề trồng nấm.

    2.1.3.1 Sự phát triển của nghề trồng nấm trên thế giới.

    Ngành sản xuất nấm đã hình thành và phát triển trên thế giới từ hàng trăm năm nay. Hiên nay người ta đã biết được có khoảng 2000 loài nấm ăn được, trong đó có 80 loài nấm có chất lượng đã và đang được nghiên cứu và nuôi trồng (UNESCO -2004). Việc nghiên cứu và sản xuất nấm ăn trên thế giới ngày càng phát triển mạnh mẽ, nó đã trở thành một ngành công nghiệp thực phẩm thực thụ, sản lượng nấm ăn nuôi trồng trên toàn thế giới đạt trên 10 triệu tấn (2004) nấm tươi.

    Ở Châu Âu, Bắc Mỹ trồng nấm đã trở thành một ngành công nghiệp lớn được cơ giới hóa toàn bộ nên năng suất và sản lượng rất cao. Các loại nấm được nuôi trồng chủ yếu là nấm mỡ, nấm sò theo quy mô dây chuyền công nghiệp chuyên môn hóa cao, có nhà máy chuyên xử lý nguyên liệu (compost) 7000 tấn compost/1 tuần đã sử dụng robot trong các khâu nuôi trông chăm sóc và thu hái nấm. (Mahfuz, 2007)

    Nhiều nước Châu Á, trồng nấm còn mang tính chất thủ công, năng suất không cao. Các nước Đông Bắc Á như Hàn Quốc, Nhật Bản và vùng lãnh thổ Đài Loan áp dụng các kỹ thuật tiên tiến và công nghiệp hóa trong nghề trồng nấm đã có mức tăng trưởng hàng trăm lần trong vòng 10 năm. Nhật Bản có nghề trồng nấm truyền thống là nấm Đông Cô (Lentinula edodes), mỗi năm đạt gần 1 triệu tấn. Hàn Quốc nổi tiếng với nấm Linh Chi (Ganoderma lucidum) mỗi năm xuất khẩu thu về hàng trăm triệu USD. Ở Trung Quốc từ những năm 1960 bắt đầu trồng nấm, có cải tiến kỹ thuật nên tăng năng suất gấp 4 – 5 lần và sản lượng tăng vài chục lần. Tổng sản lượng nấm ăn của Trung Quốc chiếm 60% sản lượng nấm ăn của thế giới. (Nguyễn Hữu Đống, 2005)

    Nhìn chung nghề trồng nấm phát triển mạnh và rộng khắp, nhất là trong 20 năm trở lại đây. Sản xuất nấm đem lại nguồn thực phẩm, tạo việc làm tại chỗ, vệ sinh môi trường đồng ruộng chống lại việc đốt phá rừng, đốt rơm rạ, tạo ra nguồn phân hữu cơ cho cải tạo đất, góp phần tích cực vào chuyển hóa vật chất. Nhờ sự phát triển của khoa học kỹ thuật trong nghề nấm về chọn tạo giống nấm, về kỹ thuật nuôi trồng và sự bùng nổ thông tin, nghề nấm đã và đang phát triển mạnh mẽ trên toàn thế giới, được coi như nghề xóa đói, giảm nghèo và làm giàu, thích hợp với các vùng nông thôn và miền núi.

    2.1.3.2 Sự phát triển nghề trồng nấm ở Việt Nam

    Tổng sản lượng các loại nấm ăn và nấm dược liệu của Việt Nam hiện nay khoảng trên 150.000 tấn/ 1 năm. Kim ngạch xuất khẩu khoảng 60 triệu USD/năm.

    Ở Việt Nam đang nuôi trồng phổ biến các loại nấm là:

    Nấm rơm trồng ở các tỉnh đồng bằng Sông Cửu Long (Đồng Tháp, Sóc Trăng, Trà Vinh…) chiếm 90% sản lượng nấm rơm cả nước.

    Mộc nhĩ tập trung ở các tỉnh Miền Đông Nam Bộ (Đồng Nai, Bình Phước…) chiềm 50% sản lượng mộc nhĩ toàn quốc.

    Nấm mỡ, nấm sò, nấm hương chủ yếu được trồng ở các tỉnh miền bắc sản lượng mỗi năm đạt khoảng 30.000 tấn.

    Nấm dược liệu: Linh chi, vân chi, đầu khỉ…mới được nuôi trồng ở một số tỉnh thành, thành phố (Hà Nội, Hưng Yên, Vĩnh phúc, TP Hồ Chí Minh…) sản lượng đạt khoảng 150 tấn.

    Một số nấm khác như: Ngọc châm, kim châm, chân dài… đang được nghiên cứu và sản xuất thử nghiệm, sản lượng chưa đáng kể. (Đinh Xuân Linh và cộng sự, 2007)

    Nghề trồng nấm ở Việt Nam đang phát triển nhưng ở quy mô nhỏ lẻ hộ gia đình, trang trại, mỗi năm sử dụng vài tấn nguyên liệu có sẵn tới vài trăm tấn/ 1 cơ sở sản xuất nấm.

    Tiềm năng và những điều kiện thuận lợi của nghề nấm rất phù hợp nước ta vì:

    – Điều kiện thiên nhiên ưu đãi, nhất là các tỉnh phía nam, chênh lệch giữa nhiệt độ tháng nóng và tháng lạnh không lớn lắm nên có thể trồng nấm quanh năm. Do gần biển và nhiều sông hồ nên không khí chứa nhiều hơi nước rất thích hợp cho nấm. Độ ẩm thấp nhất tại Hồ Chí Minh cũng không quá 80%

    – Nguồn nguyên liệu dồi dào, riêng 20 – 30 triệu tấn rơm rạ trong 1 năm cũng đủ cho ra đời 2 triệu tấn nấm tươi, trị giá 1 tỷ USD, thậm chí nếu chế biến thành đồ hộp còn cho giá trị cao hơn, lượng gỗ khai thác bình quân hàng năm là 3.5 triệu m3 tạo ra 1 lượng mùn cưa khổng lồ cho sản xuất nấm, chưa kể các phế liệu khác cũng chiếm số lượng rất lớn như bã mía, bông phế loại…

    – Lực lượng lao động đông đảo, giá công nhân lao động rẻ, đội ngũ cán bộ kỹ thuật được rèn luyện ngày càng nhiều

    – Nhiều nơi có nghề trồng nấm lâu đời như Bình Chánh (Hồ Chí Minh), Long An…hoặc đang phát triển nghề nấm như Cần Thơ, Sóc Trăng, Đà Nẵng

    – Vốn đầu tư ban đầu để trồng nấm thấp hơn so với các nghành sản xuất khác

    – Kỹ thuật trồng nấm không phức tạp, có thể dễ dàng tiếp thu được công nghệ trong một thời gian ngắn

    – Thị trường tiêu thụ nấm trong nước và trên thế giới tăng nhanh

    Mặc dù rất có tiềm năng để phát triển song để nghề nấm trở thành một nghành công nghệ thực phẩm thực thụ thì cũng còn nhiều khó khăn cần phải khắc phục

     Mặc dù đứng thứ 3 thế giới về xuất khẩu, nhưng hiện sản xuất nấm của nước ta vẫn còn nhỏ lẻ, manh mún và phải bán qua tay người khác. Một số doanh nghiệp cảnh báo, mục tiêu đạt 1 triệu tấn nấm vào năm 2010 sẽ khó đạt được nếu chúng ta không biết điều tiết thị trường, hình thành vùng nguyên liệu và nhất là xây dựng thương hiệu để nâng cao giá bán.

    Giá các loại nấm ăn đang ở mức cao: nấm mỡ muối khoảng 1.200 USD/tấn; mộc nhĩ, nấm hương, nấm rơm 1.700 – 6.500 USD/tấn. Trong khi đó, giá nấm sản xuất trong nước ở thời điểm đắt nhất cũng chỉ 28.000 – 30.000 đồng/kg, nấm rơm 10.000 – 15.000 đồng/kg.

    Điều đáng nói là do nguồn nguyên liệu không đảm bảo về chất lượng, sản phẩm không đồng đều về kích thước, mẫu mã, cả nước sản xuất được 100.000 tấn nấm nguyên liệu. Trong số đó, 50% sản lượng nấm tiêu thụ vẫn là nấm tươi, hoặc chỉ xuất khẩu dưới dạng thô. Các dạng nấm muối, nấm sấy phần lớn được chế biến tại gia đình hoặc cụm gia đình, bằng các thiết bị thủ công và chất lượng chưa cao. Giá nấm xuất khẩu của Việt Nam chỉ bằng 60% so với sản phẩm cùng loại được sản xuất tại Thái Lan, Trung Quốc.

    Do cả nước chỉ có 3 – 5% số cơ sở trồng và chế biến nấm tập trung, với quy mô 10 – 15 tấn nguyên liệu/vụ, vùng sản xuất nguyên liệu chưa đủ lớn, chỉ có một số ít địa phương đang dần hình thành quy mô sản xuất hàng hoá còn đa phần bà con vẫn xem nấm là cây trồng lúc nông nhàn, dẫn đến lượng cung luôn thấp hơn nhu cầu. Tại một số địa phương, xuất hiện tình trạng sử dụng giống chất lượng kém, dẫn đến hiện tượng bất ổn trong phong trào phát triển nấm ở Việt Nam thời gian qua.

    Bên cạnh đó, do thiếu sự liên kết giữa nông dân và doanh nghiệp nên dẫn tới tình trạng nấm làm ra không biết bán cho ai, trong khi doanh nghiệp thì khan hàng, chúng tôi Nguyễn Hữu Đống (Trung Tâm Công Nghệ Sinh Học Thực Vật – Viện Di truyền Nông Nghiệp) cho rằng: “Việt Nam có nhiều khả năng xuất khẩu nấm nhưng do vùng sản xuất nguyên liệu chưa đủ lớn nên các doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn trong việc thu mua, chế biến và xuất khẩu” (Nguyễn Hữu Đống, 2005; Đinh Xuân Linh và cộng sự, 2008)

    Một hạn chế không thể không nhắc tới là nấm ăn chưa có thương hiệu và có nguy cơ chịu chung số phận như gạo, chè, cà phê, hạt điều khi mà các nhà xuất khẩu nấm Việt Nam phải chịu để các doanh nghiệp nước ngoài chế biến và đóng gói lại sản phẩm của mình với nhãn mác mới rồi tiếp tục bán ra thị trường với giá cao hơn… Rõ ràng, việc tạo dựng thương hiệu nấm vẫn là bài toán chưa có lời giải.

    2.1.4 Đặc điểm sinh học nấm Ngọc Châm

    Nấm Ngọc Châm tên khoa học la Hypsizigus marmoteus H.E. Bigelow là tên của giống nấm Ngọc Châm từ Nhật Bản. Là loại nấm duy nhất có mùi giống với hải sản (cua) nên còn có tên gọi khác là nấm hải sản, loại nấm này chứa đầy đủ 8 loại a.a không thay thế ngoài ra còn chứa một vài loại polysacharide. Nó thường sinh trưởng trên các cây họ lá rộng trong giới tự nhiên, ví dụ như cây cây sồi, vì thế mà nấm này còn có tên khác là “nấm sồi”. Việc nuôi cấy nhân tạo nấm này bắt nguồn từ Nhật Bản bằng cách sử dụng những cây lá rộng như những nguyên liệu nuôi cấy trong những năm của thập kỷ 70. Từ tháng 4 tháng 9 năm 1993, thí nghiệm nuôi cấy Hypsizigus marmoreus với khuẩn thảo đã được tiến hành thành công bởi ông Lin Zhanhua ở thành phố Kaga của Nhật Bản. Hypsizigus marmoreus được người tiêu dùng đón nhận vì nó giàu dinh dưỡng, hương thơm đặc trưng, mùi vị hấp dẫn. Còn ở Việt Nam chủng nấm Ngọc Châm là chủng giống còn khá mới mẻ, đang trong giai đoạn nghiên cứu và thử nghiệm nên sản lượng nấm Ngọc Châm chưa đáng kể nhưng bước đầu cũng đã đem lại những kết quả khá tốt. (Shoji, 1999)

    Nấm Ngọc Châm có 20 chủng, nhưng hiện nay phổ biến nhất là hai chủng:

    – Ngọc Châm Trắng

    – Ngọc Châm Nâu

    2.1.4.1 Nấm Ngọc châm trong hệ thống phân loại

    Nấm Ngọc châm có tên khoa học là Hypsizygus marmoreus H.E. Bigelow, tên tiếng Nhật là Bunashimeji, tên tiếng Hoa là Yuxun hay Bayuxun, còn tên tiếng Anh là Crab mushroom hay Beech mushroom. (Jin và cộng sự, 2009)

    Giới nấm: Fungi;

    Nghành nấm thật: Eumycota;

    Lớp: Homobasidiomycetidae;

    Bộ: Agaricales;

    Họ: Tricholomataceae;

    Thuộc chi: Hypsizygus;

    Thuộc loài: Marmoreus.

    2.1.4.2 Đặc điểm hình thái

     

    Hình 1. Hình thái chủng nấm Ngọc Châm HT

    Quả thể nạc, mọc thành chùm và hiếm khi được phát tán. Chúng thường mọc thành cụm trong nuôi trồng nhân tạo, số lượng và kích thước quả thể đối với những cơ chất và phương pháp nuôi cấy khác nhau sẽ khác nhau. Nếu nuôi cấy trong chai nhựa thì số lượng quả thể của mỗi cụm có thể từ 6 – 60 cánh nấm. Mũ nấm hình bán cầu, bề mặt mũ nấm trơn, rìa phẳng hoặc hơi cong. Đường kính mũ nấm từ 2 – 15 cm, phần thịt nấm màu trắng và đặc. Phiến nấm mỏng màu trắng ngả ra hơi vàng, tự do và dài không đều. Cuống nấm hình trụ, phần lớn các cuống nấm hơi xoăn, màu trắng xám, rắn và nằm ở trung tâm, khi già thì mềm và dài khoảng 3 – 15cm. Ban đầu nó dày hơn ở phần đáy, sau đó hầu như dày bằng nhau khi trưởng thành. Bào tử đính thứ sinh thì trong suốt, mượt, hình cầu, đường kính khoảng 4 – 7 µm, dấu vết bào tử màu trắng. (Hexiang, 2004)

     

     

     

     

     

     

     

     Mũ – phiến nấm

    Tai nấm

    Tai nấm cắt ngang

    Phiến nấm nhìn dưới kính hiển vi

    Hình 2: Đặc điểm hình thái nấm Ngọc Châm

    2.1.4.3 Điều kiện sinh trưởng và phát triển của nấm Ngọc Châm.

                Nấm Ngọc Châm có thời gian sinh trưởng phát triển khoảng 90 – 105 ngày.

    ● Dinh dưỡng

    Đa số nấm ăn (trong đó có Ngọc Châm) là sinh vật dị dưỡng, sử dụng xenlulose ở trạng thái gián tiếp. Vì vậy để tăng năng suất, chất lượng của nấm người ta thường bổ sung thêm nguồn cacbon, nitơ, vitamin và khoáng chất bằng cách bổ sung thêm cám gạo, cám ngô, bột đậu tương, bột nhẹ, đường…

    – Cacbon: Khoảng một nửa trọng lượng khô của tế bào nấm được tạo thành từ cacbon điều đó chỉ ra vai trò quan trọng của nó trong tế bào, là yếu tố bắt buộc cho nấm tăng trưởng và phát triển, nó gồm các loại đường hỗn hợp và đường đơn.

    – Nitơ: Là nguồn dinh dưỡng không thể thiếu được ở nấm được lấy từ các axit amin và amôn.

    – Vitamin và khoáng chất: Nấm Ngọc Châm cũng cần vitamin như B1, B2… và các nguyên tố vi lượng như Ca, P…cho sự sinh trưởng và phát triển nên trong quá trình trồng nấm thường bổ sung bột nhẹ (CaCO3).

    ● Nhiệt độ

    – Nấm Ngọc Châm là loại nấm ra quả thể ở nhiệt độ thấp và biến động. Hệ sợi có thể phát triển ở nhiệt độ từ 4 – 30 oC, trong khi vùng nhiệt độ tốt nhất là từ 22 – 26 oC. Quả thể phát triển thích hợp ở vùng nhiệt độ 8 – 28 oC và phát triển tốt nhất trong khoảng 13 – 15 oC.

    ● Độ ẩm

    – Độ ẩm của cơ chất thích hợp cho sự phát triển của hệ sợi là 65 – 70%. Không khí ẩm ướt tương đối thích hợp cho sự hình thành mầm, vì thế độ ẩm không khí tương đối nên là 95 – 100%.

    ● Độ pH

    ● Chế độ ánh sáng

    – Trong giai đoạn nuôi sợi nấm Ngọc Châm không cần ánh sáng. Nếu để ánh sáng chiếu trực tiếp trong giai đoạn này thì sợi nấm dễ bị thoái hóa, sức chống chịu kém.

    – Trong giai đoạn phát triển quả thể và sự phân hóa ban đầu cần ánh sáng yếu, còn khi ánh sáng mạnh thì cần cho sự phát triển của cuống, có thể là 250 – 500 lux. Thời gian áp dụng ánh sáng ban ngày nên kéo dài hơn 9 tiếng đồng hồ.

    ● Độ thông thoáng

    – Nấm Ngọc Châm là giống nấm hiếu khí. Sự phát triển của hệ sợi yêu cầu lượng oxi đầy đủ, độ thông thoáng cao 0,06 ≤ nhỏ hơn 0,1%. (Đinh Xuân Linh và cộng sự 2008)

     

    PHẦN III: VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

     

    3.1 Nội dung nghiên cứu

    – Khảo sát ảnh hưởng của môi trường nuôi trồng tới sự sinh trưởng phát triển và năng suất của nấm Ngọc Châm.

    – Đánh giá năng suất chất lượng của chủng nấm Ngọc Châm  trên các nguyên liệu khác nhau.

    – Bước đầu xây dựng quy trình công nghệ nuôi trồng nấm Ngọc Châm trên nguồn nguyên liệu thích hợp.

    3.2 Đối tượng nghiên cứu

    Giống nấm Ngọc Châm sử dụng trong thí nghiệm là giống cấp 2, được lưu trữ và nhân giống tại Trung Tâm Công Nghệ Sinh Học – Viện Di Truyền Nông Nghiệp, được ký hiệu là HT. Đây là chủng nấm có nguồn gốc từ Nhật Bản.

    Giống cấp 2 được cấy trên cơ chất hạt (thóc), được đóng chai nhựa hoặc chai thủy tinh. Giống cấy phải đủ tuổi cấy (hệ sợi đã ăn kín đáy chai từ 2 -3 ngày), yêu cầu giống phải có hệ sợi đồng đều, có màu trắng đồng nhất, có mùi đặc trưng, không bị nhiễm mốc, nhiễm sợi dại, nhiễm khuẩn, không cấy những chai giống có hiện tượng tơi hạt, mất sợi.

    3.3 Nguyên liệu

    Nguyên liệu để nuôi trồng nấm Ngọc Châm trong thí nghiệm tôi sử dụng mùn cưa gỗ tre và mùn cưa gỗ cao su. Không dùng mùn cưa đã bị mốc, mùn cưa các loại cây gỗ cứng như đinh, lim, sến, táu…Mùn cưa mới có thể dùng ngay nếu dùng dần phải phơi khô đóng bao hoặc trộn ủ bảo quản chống mốc, chống mùn hóa làm mất chất dinh dưỡng.

    – Bông phế loại của các nhà máy dệt chưa qua xử lý các loại hóa chất làm trắng hoặc hóa chất làm sạch.

    – Các loại phụ gia dinh dưỡng bổ sung: Vôi bột, bột nhẹ, cám gạo, cám ngô, đường.

    – Bột nhẹ CaCO3: Bột nhẹ sử dụng trong thí nghiệm là bột nhẹ loại 2, không bị vón cục, vôi hóa, bổ sung bột nhẹ vào nguyên liệu trong quá trình đào ủ, với mục đích:

    + Tạo độ xốp cho nguyên liệu.

    + Hiệu chỉnh pH cho nguyên liệu.

    + Điều tiết nước.

    + Điều chỉnh tích số tan, tạo ra ion Ca2+, Mg2+ …cung cấp khoáng cho nguyên liệu.

    – Cám gạo, cám ngô: Bổ sung vào nguyên liệu để tăng hàm lượng dinh dưỡng cho cơ chất tạo điều kiện cho hệ sợi phát triển tốt để ta dễ so sánh, đồng thời cũng làm tăng độ xốp cho nguyên liệu. Cám gạo, cám ngô phải nhỏ mịn, không bị mốc, bị vón cục, có mùi thơm đặc trưng.

    – Đường: Bổ sung đường saccarose cung cấp dinh dưỡng ban đầu cho hệ sợi.

    3.4 Các điều kiện chuẩn bị cho thí nghiệm

    3.4.1 Địa điểm

    Các thí nghiệm được tiến hành tại nhà nấm Ngọc Châm Trung Tâm Nấm Văn Giang – Văn Giang – Hưng Yên. Thuộc Trung Tâm Công Nghệ Sinh Học Thực Vật – Viện Di Truyền Nông Nghiệp.

    3.4.2 Bố trí thí nghiệm

    Thí nghiệm được tiến hành trên nguyên liệu là mùn cưa cao su, mùn cưa gỗ tre, bông phế loại có bổ sung dinh dưỡng theo tỷ lệ nhất định, điều kiện nuôi cấy thực nghiệm giống nhau. Mỗi công thức môi trường đóng 100 bịch, trọng lượng mỗi bịch 0,8 kg/1 bịch, mỗi công thức được tiến hành thí nghiệm lặp lại 3 lần với thời gian như sau:

    – Lần 1: từ ngày 16 – 03 – 2010

    – Lần 2: từ ngày 26 – 03 – 2010

    – Lần 3: từ ngày 06 – 03 – 2010

    3.4.3 Điều kiện thiết bị cho thí nghiệm

    – Khu vực tập kết, ủ đảo nguyên liệu phải đủ rộng để thao tác xử lý nguyên liệu được thoải mái. Ngoài ra khu vực này phải thoáng, sạch sẽ không gần các nguồn gây ô nhiễm.

    – Nhà nuôi trồng gồm có: Nhà ươm sợi, nhà chăm sóc và thu hái, có khả năng khống chế nhiệt độ, cần đảm bảo vệ sinh sạch sẽ, thoáng mát, xa khu vệ sinh, chuồng trại chăn nuôi và bãi rác thải. Trước khi sử dụng nhà nuôi trồng cần được vệ sinh sạch sẽ, bằng cách phun foocmon với nồng độ 0,5% trực tiếp vào nhà nuôi theo định lượng 3m2/lit, sau khi phun đóng cửa để 3 – 4 ngày hoặc xông hơi bột lưu huỳnh theo tỷ lệ 100g/ 40m3 phòng.

    – Cả nhà ươm sợi và nhà chăm sóc thu hái đều phải có hệ thống tầng giàn, tùy theo cỡ nhà mà thiết kế hệ thống tầng giàn sao cho phù hợp, để thuận tiện cho việc chăm sóc, thu hái chỉ nên làm 3 – 4 tầng giàn. Tầng giàn có thể làm bằng tre, gỗ, sắt…mỗi tầng cách nhau 60 – 70cm. Chiều rộng của giàn là 70 – 80 cm.

    – Nhà ươm sợi cần đảm bảo sạch, thoáng, độ ẩm đạt từ 65 – 80%, kín gió, ánh sáng yếu, nhiệt độ từ 18 – 26oC.

    – Nhà nuôi, chăm sóc, thu hái đảm bảo ẩm độ 85 – 95%, kín gió.

    – Ngoài ra cần phải chuẩn bị đầy đủ các thiết bị để phục vụ cho từng bước thí nghiệm.

    – Đóng bịch: Túi PP chịu nhiệt có kích thước 17 × 33 cm, bông, cổ nút bằng nhựa chịu nhiệt, chun buộc, nắp.

    + Thanh trùng bịch: Lò hấp hơi tự động và thủ công.

    + Cấy giống: phòng cấy, box cấy, que cấy, cồn 70oC đèn cồn.

    + Ươm sợi và nuôi sợi: ẩm kế, nhiệt kế, giấy quỳ, bình phun nước.

    3.5 Phương pháp nghiên cứu

    Chủng nấm Ngọc Châm là một chủng nấm mới có xuất xứ từ Nhật Bản. Hiện nay Việt Nam chưa có tài liệu nào đề cập đến đặc tính sinh học, công nghệ nuôi trồng cũng như nghiên cứu về chủng nấm Ngọc Châm. Tại Trung Tâm Công Nghệ Sinh Học Thực Vật – Viện Di Truyền Nông Nghiệp đang thử nghiệm nhân giống và nuôi trồng do đó chúng tôi tiến hành thí nghiệm theo phương pháp nghiên cứu thực nghiệm qua các công thức sau:

    Xử lý nguyên liệu – Phối trộn phụ gia – Đóng bịch – Thanh trùng bịch – Cấy giống – Ươm sợi – Chăm sóc thu hái.

    Chúng tôi đã sử dụng phương pháp nghiên cứu thực nghiệm dựa theo “Nấm ăn, cơ sở khoa học nghiên cứu và nuôi trồng” của chúng tôi Nguyễn Hữu Đống và các cộng sự được thực hiện trên cơ sở ghi chép tổng hợp, phương pháp thu thập số liệu theo phương pháp thống kê sinh học và xử lý số liệu bằng phần mềm Excell, từ đó so sánh, đánh giá, nhận xét các chỉ tiêu của nội dung nghiên cứu và rút ra kết luận.

    – Bịch giống sau khi cấy xong chuyển vào phòng nuôi sợi

    Tiến hành theo dõi và xác định một số yếu tố diễn ra trong quá trình nuôi trồng theo phương pháp sau:

    – Xác định nhiệt độ nhà ươm sợi và nhà nuôi trồng bằng nhiệt kế.

    – Xác định độ ẩm môi trường xung quanh bằng ẩm kế.

    – Xác định pH bằng máy đo pH.

    Xác định cường độ ánh sáng của phòng ươm sợi và nuôi rồng bằng máy đo cường độ ánh sáng.

    – Xác định tỷ lệ bịch nhiễm bằng cách tính:

    Tổng số bịch nhiễm

    Tỷ lệ bịch nhiễm (%) = ────────────────    × 100

    `                                   Tổng số bịch được nuôi cấy

    – Xác định tốc độ lan sợi của bịch nấm bằng cách đo chiều dài sợi nấm ăn vào cơ chất.

    – Xác định mật độ lan sợi bằng cách quan sát và so sánh với giống đối chứng.

    – Tính năng suất nấm:

    Thu hái từng đợt ra quả thể của riêng từng công thức, đưa lên cân rồi tính năng suất như sau:

    Tính hiệu suất quả  thể nấm sau mỗi đợt của mỗi công thức nấm Ngọc Châm/1 bịch

    Khối lượng nấm tươi

    Hiệu suất sinh học (%) = ──────────────── × 100

    Khối lượng nguyên liệu khô

    Từ đó có thể tính năng suất trung bình sau 3 đợt nuôi trồng của mỗi công thức nấm Ngọc Châm bằng cách lấy trung bình cộng của cả 3 đợt thí nghiệm.

    3.5.1 Xử lý nguyên liệu

    ● Đối với mùn cưa, mùn tre:

    Mùn cưa, mùn tre được tạo ẩm bằng bình o doa đến khoảng 62% bằng nước vôi pha sẵn có pH = 12 – 13. Sau khi tạo ẩm ta đánh thành đống và phủ kín bằng nilon.

    ● Đối với bông phế loại:

    Ngâm bông nhanh trong nước vôi có pH = 12 – 13 rồi ủ lại thành đống có che phủ bằng nilon. Ủ trong vòng 12 – 24 giờ, trước khi mang đi đóng bịch phải dùng máy để xé tơi bông.

    Xử lý nguyên liệu có vai trò quan trọng ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng và phát triển của nấm. Phương pháp xử lý nguyên liệu phổ biến nhất hiện nay là phương pháp ủ đống.

    Mục đích của việc tạo ẩm ủ đống mùn cưa, mùn tre và bông là:

    – Tạo điều kiện cho nước thẩm thấu đều vào nguyên liệu, phá vỡ các liên kết hóa học giúp cho quá trình sử dụng nguyên liệu làm thức ăn của nấm được dễ dàng hơn.

    – Tạo điều kiện cho các vi sinh vật hiếu khí hoạt động nhằm phân cắt các mạch cellulo cao phân tử thành các hợp chất có phân lượng nhỏ hơn cho nấm dễ sử dụng.

    – Nhờ quá trình hoạt động của các vi sinh vật ưa nhiệt mà nhiệt độ đống ủ tăng cao (75 – 80oC) tạo điều kiện thanh trùng tự nhiên hạn chế các nhóm sinh vật ưa lạnh và ưa ẩm trong đó đa phần là các vi sinh vật không có lợi cho hoạt động của nấm: tạp khuẩn hoặc các sợi nấm dại, nấm mốc.

    3.5.2 Phối trộn phụ gia

    Sau khi ủ và tạo ẩm cho nguyên liệu, lấy nguyên liệu ra phối trộn phụ gia để đóng bịch. Mục đích của việc phối trộn thêm phụ gia là bổ sung thêm nguồn dinh dưỡng tạo điều kiện cho sợi phát triển tốt nhất.

    – Phụ gia (cám gạo, cám ngô…) sau khi được trộn đều với nhau sẽ được trộn với nguyên liệu đã qua ủ sơ bộ.

    – Yêu cầu: các nguyên liệu phối trộn với nhau phải đều, phụ gia không bị vón cục.

    Bảng công thức phối trộn nguyên liệu

     

    Mùn cưa

    Bông hạt

    Mùn tre

    Cám gạo

    Bột ngô

    CaCO3

    Đường

    CTĐC

    40,5%

    40.5%

    0%

    12%

    5%

    1,5%

    0,5%

    CT1

    27%

    27%

    27%

    12%

    5%

    1,5%

    0,5%

    CT2

    40,5%

    0%

    40,5%

    12%

    5%

    1,5%

    0,5%

    CT3

    0%

    40,5%

    40,5%

    12%

    5%

    1,5%

    0,5%

    CT4

    0%

    0%

    81%

    12%

    5%

    1,5%

    0,5%

     

    Nguyên liệu sau khi bổ sung thêm các phụ gia được trộn đều nhằm mục đích tạo sự đồng đều về mặt dinh dưỡng trong mỗi bịch nấm tạo điều kiện cho các sợi nấm sinh trưởng và tạo thuận lợi cho quá trình đánh giá tốc độ phát triển hệ sợi.

    3.5.3 Đóng bịch

    Túi đựng nguyên liệu sử dụng là túi PP chịu nhiệt có kích thước 17 × 33 × 0,05 cm. Nguyên liệu sau khi phối trộn được đưa vào túi và đúc chặt. Trọng lượng là 0,7 Kg/ bịch. Chiều cao là 13 cm.

    Bịch sau khi được đút chặt nguyên liệu, tiến hành làm cổ nút và đậy bịch bằng nút bông có nắp chụp để chống hơi nước thẩm thấu vào bông khi hấp bịch.

    Số lượng bịch/ 1 công thức là 90 bịch.

    3.5.4 Thanh trùng bịch

    Mục đích của thanh trùng bịch là để loại bỏ hoàn toàn tạp khuẩn trong bịch nguyên liệu. Quá trình này có vai trò rất quan trọng trong việc quyết định khả năng sinh trưởng và phát triển của nấm sau này. Quá trình thanh trùng bịch thường sử dụng hai phương pháp: phương pháp hấp hơi bão hòa bằng lò thủ công hoặc phương pháp dùng nồi hấp áp lực BK

    – Lò thủ công: dùng lò hấp bịch cho tới khi trong lò đạt 100 – 105oC ta duy trì nhiệt độ này từ 10 – 12 giờ, khi nhiệt độ trong bịch đạt 60 – 65oC thì ra lò. Tuyệt đối không được để bịch nguội trong lò để tránh hiện tượng nguyên liệu bị hấp hơi và bị chua. Sau khi ra lò bịch được để nguội hẳn trong phòng cấy, sau 24 giờ sẽ tiến hành cấy giống.

    – Dùng lò hấp áp lực BK: Cấp hơi nước vào lò khi lò đạt áp lực 1,2 – 1,5at bắt đầu thời gian hấp trong 2,5h thì thời gian hấp đã đủ. Tiến hành ra lò như đối với lò thủ công. Trong các thí nghiệm nghiên cứu chúng tôi hấp bịch bằng  phương pháp hấp áp lực BK.

    – Mục đích của quá trình thanh trùng là để loại bỏ hoàn toàn tạp khuẩn trong bịch nguyên liệu. Quá trình này rất quan trọng trong việc quyết định khả năng khả năng sinh trưởng và phát triển của nấm sau này.

    Hình 3. Lò hấp áp lực BK

    3.5.5 Cấy giống

    Quá trình cấy giống được thực hiện trong phòng cấy vô trùng. Thông thường trước và sau mỗi lần cấy giống phải vệ sinh phòng cấy sạch sẽ nhằm hạn chế tối đa sự nhiễm mốc có nguyên nhân do cấy giống.

    Giống được sử dụng để cấy khi hệ sợi kín đáy chai được 2 ngày, không sử dụng giống già, bị nhiễm mốc, giống phải có mùi đặc trưng.

    Phương pháp cấy: Dùng que cấy khều vứt bỏ lớp màng dai trên bề mặt giống, sau đó khều nhẹ giống cho tơi đều rồi đổ vào cổ nút, lắc nhẹ bịch cho giống được giàn đều trên bề mặt bịch. Buộc báo trên đỉnh nút bông, để tránh những bào tủ nấm dại, nấm mốc bám vào nút bông. Các thao tác khi cấy cần được thực hiện nhẹ nhàng tránh làm tổn thương giống.

    Lượng giống cho vào mỗi bịch là 10 – 15 gam/ bịch nguyên liệu (1 chai giống 300 gam cấy cho 22 – 25 bịch nguyên liệu).

    3.5.6 Ươm sợi

     

    Hình 4. Ươm nuôi sợi

    Sau khi cấy giống bịch chuyển vào nhà ươm sợi, đặt lên các giàn giá với khoảng cách bịch cách bịch từ 1 – 2 cm, nhà ươm sợi cần thông thoáng, độ ẩm đạt 65% – 80%, nhiệt độ từ 18 – 26oC, ánh sáng yếu. Trong thời gian ươm sợi cần phải thường xuyên theo dõi, kiểm tra sự phát triển của sợi. Tuyệt đối không cầm vào cổ nút và hạn chế tối đa các tác động cơ học vào bịch. Sau 10 -15 ngày cần phải chọn nhiễm, loại bỏ những bịch nhiễm ra khỏi khu vực ươm.

    Khi sợi nấm ăn gần kín đáy bịch cách đáy 1cm ta tiến hành cạo bề mặt bịch, cạo hết những sợi già hóa ở trên mặt bịch để ưu tiên cho các cụm sợi trưởng thành mới mọc lên, rồi buộc miệng túi lại trên có nút bông, để cho sợi vẫn hô hấp được, sau đó lại xếp các bịch lên giàn để khoảng 30 ngày cho sợi ăn kín hết bịch và hệ sợi nấm đã tích tụ dinh dưỡng một cách tối ưu thì ta chuyển bịch sang nhà chăm sóc, thu hái.

     

     

     

     

    3.5.7 Chăm sóc thu hái

     

    Hình 5. Chăm sóc nấm trong nhà lạnh

    Yêu cầu nhà chăm sóc: Nấm Ngọc Châm được chăm sóc trong nhà lạnh. Nhà chăm sóc phải sạch sẽ, độ thông thoáng tốt [CO2] < 0,3%. Đây là giai đoạn quả thể phát triển nên cần ánh sáng yếu, nhiệt độ phòng chăm sóc thu hái từ 13 – 15 và độ ẩm không khí là 85 – 90%.

    ● Phương pháp chăm sóc

    Sau 7 – 10 ngày từ khi đưa vào nhà lạnh (13 – 15oC) có thể nhìn thấy mầm quả thể hình bánh răng mọc trên bề mặt cơ chất.

    Khi mầm quả thể xuất hiện, mở miệng túi nilon, giữ nhiệt độ phòng khoảng 13 – 15oC. Tưới nước dạng phun sương vào không khí, nền phòng nuôi để giữ độ ẩm khoảng 85 – 90%, tránh ánh sáng trực tiếp vào mầm quả thể. Củng cố sự thông gió và giữ không khí sạch, nấm có thể thu hái được sau 15 – 17 ngày.

    Các bệnh thường gặp ở giai đoạn ra quả thể nấm Ngọc Châm.

    – Bị giám mũ quả thể.

    – Bị nhũn cuống nấm do tưới nước quá nhiều.

    – Bị nhiễm mốc xanh do nhiệt độ phòng nuôi cao.

    ● Thu hái và bảo quản.

    Thu hái và phân loại cẩn thận là một bước quan trọng nâng cao giá trị thị trường của nấm Ngọc Châm. Thu hái nấm khi đường kính mũ nấm đạt từ 1,5 – 2 cm. Khi hái, một tay ấn quanh cơ chất ở quanh rễ, tay kia cầm cuống và giật mạnh cả cụm nấm lên. Nấm được cắt chân, để vào túi PE, buộc miệng túi lại, để tránh va chạm cơ học để nấm khỏi bầm dập. Muốn bảo quản lâu cần để ở nhiệt độ 2 – 4oC, hút chân không cho túi đựng nấm, thời gian bảo quản được 7 đến 10 ngày.

    Sau khi thu hái lứa nấm đầu tiên, phải làm sạch phần cuống còn lại và nấm chết để đón lứa nấm thứ hai. Cách chăm sóc, thu hái các lứa sau như ban đầu, có thể thu hái 3 – 4 lần.

     

     

     

     

     

     

     

    PHẦN IV: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

     

    4.1 Giai đoạn nuôi sợi.

    4.1.1 Ảnh hưởng của môi trường nguyên liệu đến tốc độ sinh trưởng và phát triển của hệ sợi nấm

    Đối với chủng nấm Ngọc Châm (Hypsizigus marmoreus) nguyên liệu trong cơ chất nuôi trồng có ảnh hưởng rất lớn đến sự sinh trưởng và phát triển của hệ sợi nấm.

    Chúng tôi theo dõi thời gian sinh trưởng, phát triển của hệ sơi trên từng loại môi trường khác nhau và theo từng đợt thí nghiệm, các thí nghiệm được bố trí nuôi trồng trong cùng một điều kiện nhiệt độ, độ ẩm…

    4.1.1.1 Khả năng sinh trưởng và phát triển của hệ sợi nấm

    Để đánh giá khả năng sinh trưởng, phát triển của hệ sợi, chúng tôi lấy thời gian sợi ăn kín đáy bịch nguyên liệu để làm mốc. Kết quả thu được như sau:

                                Hình 6. Hệ sợi nấm bắt đầu ăn vào cơ chất

    Bảng 1. Khả năng phát triển của hệ sợi trên các công thức khác nhau

            Đợt

    CT

    Đợt 1 (ngày)

    Đợt 2 (ngày)

    Đợt 3 (ngày)

    Trung bình (ngày)

    CTĐC

    70

    71

    72

    71

    CT1

    72

    71

    69

    71

    CT2

    75

    74

    75

    75

    CT3

    74

    73

    73

    73

    CT4

    75

    76

    74

    75

     

    Biểu đồ 1: Đánh giá tốc độ sinh trưởng trung bình của nấm Ngọc Châm

     

    Biểu đồ 2: Đánh giá tốc độ sinh trưởng của nấm Ngọc Châm qua 3 đợt theo dõi

     

             Khi đã ăn được nửa bịch

     

                     Khi đã ăn kín bịch

    Hình 7. Sự phát triển của hệ sợi nấm Ngọc Châm

     

    4.1.1.2 Mật độ phát triển của hệ sợi

    Khi theo dõi sự phát triển của hệ sợi nấm Ngọc Châm chủng HT chúng tôi nhận thấy hệ sợi nấm trong giai đoạn đầu mọc khá đồng đều. Chúng tôi quan sát  và nhận thấy, kể từ ngày 20 trở đi (tính từ khi cấy giống) tốc độ phát triển của hệ sợi nấm trên mỗi công thức đã có sự khác biệt, qua đó ta thấy môi trường nguyên liệu có ảnh hưởng rất lớn đến sự phân bố của hệ sợi.

    Bảng 2. Ảnh hưởng của môi trường nguyên liệu đến sự phân bố mật độ hệ sợi nấm

    Công thức dinh dưỡng

    Thang điểm

    Mật độ hệ sợi

    CTĐC

    7 – 8

    Dày

    CT1

    9 – 10

    Rất dày

    CT2

    4 – 5

    Mỏng

    CT3

    5 – 6

    Bình thường

    CT4

    5 – 6

    Bình thường

     

    Chủng nấm HT được nuôi cấy ở CT1 môi trường nguyên liệu mùn cưa : mùn tre : bông phế loại tỉ lệ bằng nhau có hệ sợi phát triển rất dày phân bố đều trên bịch nguyên liệu, có màu trắng mượt, sợi ăn kín bịch theo kiểu chân chim, hệ sợi khỏe. Công thức đối chứng hệ sợi phát triển khá dày, hệ sợi có màu trắng đẹp sợi ăn kín hết bịch, hệ sợi khỏe. Ở công thức 3 và 4 hệ sợi phát triển bình thường, có màu trắng ngà ngà. Dựa vào bảng 2 ta thấy ở công thức 2 sợi nấm phát triển chậm, mật độ hệ sợi lại mỏng, phân bố không đều trên giá thể.

    Hình 8. Sự phát triển của hệ sợi nấm Ngọc Châm sau 30 ngày

    kể từ khi cấy giống

     

     

    4.1.1.3 Khả năng nhiễm bịch ươm

    Sau khi cấy giống 10 – 15 ngày, do một vài nguyên nhân bịch ươm có thể bị nhiễm các loại mốc, Qua theo dõi, chúng tôi nhận thấy trong cả 3 đợt thí nghiệm một số bịch ươm có dấu hiệu nhiễm nấm mốc và tạp khuẩn nguyên nhân chính là do thủng túi nguyên liệu. Cụ thể trong quá trình ươm sợi có một số bịch nhiễm các loại mốc sau:

    STT

    Hiện tượng

    Nguyên nhân

    Hậu quả

    Khắc phục

    1

    Nhiễm mốc xanh

    -Nguyên liệu trong bịch vẫn còn sống do hấp chưa kỹ

    -Bông bị ẩm

    -Do giống bị nhiễm mốc

    -Do bịch bị thủng

    -Do ô nhiễm môi trường cấy giống

    -Tốc độ lây lan lớn

    -Ức chế sự phát triển của nấm

    -Giảm năng suất

    -Nếu mốc 1 ít trên bề mặt thì ta có thể loại bỏ chỗ mốc rồi tiếp tục nuôi

    – Nếu nhiều thì phải loại bỏ hoặc cạo lớp giống rồi đem đi xử lý lại

    2

    Nhiễm mốc đen

    -Do giống bị nhiễm mốc

    -Bịch bị thủng

    -Do ô nhiễm môi trường cấy giống

    -Ức chế sự phát triển của nấm do có sự cạnh tranh về dinh dưỡng

    -Giảm năng suất

    -Cạo bỏ lớp giống rồi đem đi xử lý lại

    3

    Mốc vàng hoa cau

    -Do môi trường và nút bông bị ẩm

    -Bịch bị rách

    -Môi trường cấy, ươm bị nhiễm bệnh

    – Sợi nấm phát triển kém

    – Phải loại bỏ

    4

    Sợi nấm không phát triển được

    -Do nguyên liệu bị sống

    -Nguyên liệu có chứa tinh dầu

    -Sợi nấm không phát triển được

    – Cạo bỏ lớp giống rồi đem đi xử lý lại

    5

    Nhiễm mốc trắng

    -Do nguyên liệu bị sống

    -Nhiệt độ cao

    – Sợi nấm không phát triển được

    – Những bịch bị ít thì có thể nuôi tận thu

     

    Bảng 3 : Tỷ lệ nhiễm mốc trên các môi trường nguyên liệu khác nhau

                Đợt

    CT

    Đợt 1 (%)

    Đợt 2 (%)

    Đợt 3 (%)

    Trung bình (%)

    CTĐC

    6.7

    6.7

    7.8

    7.1

    CT1

    6.7

    7.8

    7.8

    7.4

    CT2

    8.9

    10.0

    8.9

    9.3

    CT3

    10.0

    11.1

    8.9

    10.0

    CT4

    11.1

    10.0

    10.0

    10.4

     

     

    Hình 9. Bịch nấm bị nhiễm mốc vàng hoa cau

    Biểu đồ 3: Tỷ lệ nhiễm bịch trung bình trên các công thức

    Tỷ lệ nhiễm mốc ở các công thức ở mức thấp. Ở công thức đối chứng và công thức 1 tỷ lệ nhiễm mốc thấp nhất. Công thức 3 và công thức 4 tỷ lệ nhiễm mốc trung bình là cao hơn cả nguyên nhân là do mùn tre chưa được xử lý tốt, trong quá trình hấp nguyên liệu chưa được kỹ. Một nguyên nhân khác là do trong quá trình chuyển bịch nấm bịch bị va chạm, cọ sát dẫn đến rách túi, thủng túi dẫn đến nhiễm mốc.

    4.1.2 Ảnh hưởng của nhiệt độ đến tốc độ sinh trưởng và phát triển của hệ sợi nấm

    Để tiến hành nghiên cứu ảnh hưởng của nhiệt độ trong giai đoạn ươm sợi, tôi lấy 90 bịch ở CT1 (27% mùn cưa, 27% mùn tre, 27% bông phế loại, 12% cám gạo, 5% bột ngô, 1,5% CaCO3, 0,5% đường) – công thức có triển vọng nhất rồi diều chỉnh nhiệt độ ở 3 khoảng khác nhau:

    Thí nghiệm 1 (30 bịch) : Duy trì nhiệt độ nhà ươm từ 15 – 20oC

    Thí nghiệm 2 (30 bịch) : Duy trì nhiệt độ nhà ươm từ 20 – 25oC

    Thí nghiệm 3 (30 bịch) : Duy trì nhiệt độ nhà ươm từ 25 – 30oC

    3 thí nghiệm trên được tiến hành đồng thời và được lặp lại 3 lần. Chúng tôi theo dõi nhiệt độ môi trường ở cả 3 thí nghiệm nhận thấy tốc độ phát triển của hệ sợi nấm và tỷ lệ nhiễm bịch phụ thuộc rất lớn vào nhiệt độ môi trường ươm sợi. Sợi có thể mọc nhanh hay chậm tùy thuộc vào độ biến đổi nhiệt độ của môi trường. Qua theo dõi, chúng ta có bảng kết quả sau:

    Bảng 4. Ảnh hưởng của nhiệt độ đến tốc độ phát triển của hệ sợi

     

    TN1 (15 – 20oC)

    TN2 (20 – 25oC)

    TN3 (25 – 30oC)

    Tốc độ mọc sợi trung bình (mm/ngày)

    2.9

    3.3

    3.5

    Tỷ lệ nhiễm mốc trung bình (%)

    5.5

    6.7

    8.9

    Đặc điểm hệ sợi

     

    Mật độ hệ sợi bình thường, sợi phát triển chậm, có màu trắng ngà ngà

    Mật độ hệ sợi dày, sợi phát triển tốt, phân bố đều trên mặt bịch, có màu trắng sữa đẹp

    Mật độ hệ sợi kém, khả năng kéo dài sợi nhanh, nhưng tỷ lệ nhiễm cao, phân bố không đều trên bề mặt bịch, có màu trắng pha vàng nhạt

     

    Hình 10. Sự phát triển hệ sợi nấm ở nhiệt độ 20 – 25oC

     

    Biểu đồ 4: Ảnh hưởng của nhiệt độ tới tốc độ phát triển hệ sợi

     

     

    Biểu đồ 5: Ảnh hưởng của nhiệt độ đến tỷ lệ nhiễm bịch nấm

     

    Trong thí nghiệm (TN1) đây là khoảng nhiệt độ môi trường thấp, có lúc nhiệt độ môi trường xuống thấp 15oC, do đó mà hệ sợi nấm phát triển rất chậm, mật độ hệ sợi bình thường, có mầu ngà ngà, tỷ lệ nhiễm bịch thấp.

    Ở TN2, nhiệt độ môi trường có cao hơn, biến thiên duy trì ở mức 20 – 25oC, chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy tốc độ mọc sợi khá cao, nhất là khoảng nhiệt độ từ 22 – 24oC thì hầu hết các bịch ươm sợi đều mọc kín đáy bịch với tốc độ nhanh. Mật độ hệ sợi dày, sợi to khỏe và đẹp phân bố đều trên bề mặt bịch.

    Trong TN3, nhiệt độ môi trường tiếp tục tăng cao, biến thiên nhiệt độ duy trì ở mức từ 25 – 30oC, trong 20 ngày đầu nhiệt độ dao động từ 25 – 26oC, chúng ta nhận thấy tốc độ mọc sợi là khá nhanh nhưng khi nhiệt độ tăng cao thì tốc độ mọc sợi có dấu hiệu chậm lại, tỷ lệ nhiễm bịch ở thí nghiệm này là khá cao.

    Qua bảng 4 và biểu đồ 4, 5 chúng ta nhận thấy rằng, ở điều kiện nhiệt độ 15 – 20oC và 27 – 30oC hệ sợi phát triển chậm, tốc độ mọc sợi kém, điều kiện 20 – 24oC, tốc độ mọc sợi không chỉ đạt hiệu quả cao nhất mà theo quan sát cảm quan, chúng tôi thấy mật độ hệ sợi mọc trên các bịch ở điều kiện nhiệt độ này rất tốt, sợi mọc dày, đẹp, mọc đều trên toàn bộ bịch.

    4.1.3 Ảnh hưởng của độ ẩm đến tốc độ sinh trưởng và phát triển của hệ sợi nấm

    Ngoài yếu tố nhiệt độ thì độ ẩm cũng là một yếu tố quan trọng có ảnh hưởng lớn đến giai đoạn ươm sợi. Để đánh giá được ảnh hưởng của độ ẩm cơ chất trong giai đoạn ươm sợi, tôi tiến hành lấy 90 bịch ở công thức có triển vọng nhất CT1 (27% mùn cưa, 27% mùn tre, 27% bông phế loại, 12% cám gạo, 5% bột ngô, 1,5% CaCO3, 0,5% đường) rồi hiệu chỉnh độ ẩm ở 3 ngưỡng khác nhau, các thí nghiệm được tiến hành đồng thời và được lặp lại 3 lần:

    Thí nghiệm 1 (30 bịch) : Hiệu chỉnh độ ẩm ở ngưỡng W = 55%

    Thí nghiệm 2 (30 bịch) : Hiệu chỉnh độ ẩm ở ngưỡng W = 62%

    Thí nghiệm 3 (30 bịch) : Hiệu chỉnh độ ẩm ở ngưỡng W = 72%

    Chúng tôi tiến hành theo dõi và lập được bảng kết quả sau:

    Bảng 5. Ảnh hưởng của độ ẩm trong giai đoạn ươm sợi

     

    TN1 (W = 55%)

    TN2 (W = 62%)

    TN3 (W = 72%)

    Tốc độ mọc sợi trung bình (mm/ngày)

    2.43

    2.67

    2.2

    Tỷ lệ nhiễm mốc trung bình (%)

    4.42

    6.6

    7.8

     

     

    Biểu đồ 6: Ảnh hưởng của độ ẩm đến tốc độ mọc sợi

    Biểu đồ 7: Ảnh hưởng của độ ẩm cơ chất đến tỷ lệ nhiễm bịch ươm

    Từ bảng 5 và biểu đồ 6, 7 có thể thấy độ ẩm cơ chất có ảnh hưởng rất lớn trong giai đoạn ươm sợi. Ở thí nghiệm 1, độ ẩm cơ chất thấp (W = 55%) nên tốc độ mọc sợi nhanh, hệ sợi thưa mỏng, nhưng tỉ lệ nhiễm mốc lại thấp.

    Ở thí nghiệm 2 độ ẩm cơ chất W = 62%, ta thấy hệ sợi phát triển tốt đồng đều, mật độ hệ sợi dày, sợi có màu trắng đẹp, nhưng tỉ lệ nhiễm mốc cao.

    Ở thí nghiệm 3 độ ẩm cơ chất cao W = 72%, hệ sợi phát triển yếu, sợi chỉ ăn được 1/2 thì bịch co lại không phát triển tiếp, tỉ lệ nhiễm cao.

    Như vậy có thể thấy rằng để đảm bảo cho hệ sợi phát triển tốt và ổn định nhất nên khống chế nhiệt độ phòng ươm trong khoảng 20 – 25oC và hiệu chỉnh độ ẩm cơ chất W = 62%.

    4.2 Giai đoạn ra quả thể

    4.2.1 Ảnh hưởng của môi trường nguyên liệu đến sự hình thành và phát triển của quả thể nấm

    Để đánh giá ảnh hưởng của môi trường nguyên liệu đến sự hình thành và phát triển của quả thể nấm. Chúng tôi lấy thời gian từ ngày cấy giống đến ngày có mầm quả thể để làm mốc, kết quả thu được như sau:

    Bảng 6 : Ảnh hưởng của môi trường nguyên liệu đến khả năng hình thành mầm quả thể

            Đợt

    CT

    Đợt 1 (ngày)

    Đợt 2 (ngày)

    Đợt 3 (ngày)

    Trung bình (ngày)

    CTĐC

    80

    81

    80

    80

    CT1

    79

    79

    78

    79

    CT2

    82

    85

    85

    84

    CT3

    82

    82

    81

    82

    CT4

    84

    85

    86

    85

    Biểu đồ 8: Ảnh hưởng của nguyên liệu đến khả năng hình thành quả thể nấm

                Qua bảng 6 và biều đồ 8, ta thấy thời gian nấm Ngọc Châm hình thành quả thể khá dài, quả thể chỉ bắt đầu hình thành khi các bịch ươm đã hoàn toàn kết thúc pha sợi.

    Trên công thức 1 quả thể hình thành sớm nhất, mật độ mầm quả thể khá ổn định, quả thể có màu trắng sữa đẹp.

    Công thức đối chứng mầm quả thể hình thành nhanh, mật độ quả thể dày, quả thể có màu trắng sữa đẹp.

    Công thức 3 mầm quả thể hình thành khá nhanh, nhưng mật độ mầm thưa, không nhiều, quả thể màu trắng đẹp.

    Công thức 2 và công thức 4 dấu hiệu hình thành mầm quả thể muộn, mật độ mầm quả thể thưa, quả thể màu trắng ngà ngà.

    Hình 10. Mầm quả thể nấm Ngọc Châm

    4.2.2 Ảnh hưởng của nhiệt độ đến tới sự hình thành và phát triển của quả thể nấm

    Nhiệt độ là một trong những yếu tố có ảnh hưởng rõ rệt đến sự sinh trưởng cũng như sự phát triển của quả thể nấm. Vì vậy để đánh giá ảnh hưởng của nhiệt độ trong giai đoạn này chúng tôi tiến hành thí nghiệm lấy 90 bịch ở công thức có triển vọng nhất CT1, rồi điều chỉnh nhiệt độ ở 3 khoảng khác nhau, các thí nghiệm được lặp lại 3 lần:

    Thí nghiệm 1 (30 bịch) : Duy trì nhiệt độ nhà chăm sóc từ 5 – 10oC

    Thí nghiệm 1 (30 bịch) : Duy trì nhiệt độ nhà chăm sóc từ 10 – 15oC

    Thí nghiệm 1 (30 bịch) : Duy trì nhiệt độ nhà chăm sóc từ 15 – 20oC

    Các thí nghiệm trên được lặp lại 3 lần

    Qua theo dõi ta có bảng kết quả sau:

    Bảng 7 : Ảnh hưởng của nhiệt độ đến giai đoạn ra quả thể

     

    TN1 (5 – 10oC)

    TN2 (10 – 15oC)

    TN3 (15 – 20oC)

    Năng suất trung bình (%)

    19.5

    34.7

    15.2

    Đặc điểm quả thể

    Quả thể phát triển chậm, một số quả thể phát triển không bình thường (khuyết mũ).

    Quả thể phát triển tốt, mọc đều, hình thức đẹp, quả nấm mọc thẳng, cân đối.

    Quả thể nấm phát triển chậm, mũ quả thể bị sùi, một số quả thể còn bị chết.

     

    Biểu đồ 9: Ảnh hưởng của nhiệt độ đến năng suất của nấm

    Trong thí nghiệm 1 nhiêt độ tương đối thấp và ở thí nghiệm 3 nhiệt độ tương đối cao. Qua theo dõi chúng tôi thấy ở cả 2 thí nghiệm này thời gian hình thành quả thể đến khi kéo dài khoảng 21 – 23 ngày. Quả thể mọc không đều, một số bịch có dấu hiệu quả thể bị chững lại ngừng phát triển.

    Trong thí nghiệm 2 nhiệt độ từ 10 – 15oC, thời gian hình thành quả thể cho đến khi thu hái dài từ 14 – 16 ngày quả thể mọc đều, thẳng, cân đối, có màu trắng sữa đẹp, tốc độ phát triển nhanh.

    Vậy ở giai đoạn chăm sóc thu hái, nhiệt độ ảnh hưởng lớn đến sự hình thành và phát triển của quả thể. Ở nhiệt độ 10 – 15oC là nhiệt độ thích hợp nhất cho quả thể nấm phát triển, cho năng suất cao.

    4.2.3 Ảnh hưởng của độ ẩm môi trường tới sự hình thành và phát triển của quả thể nấm

    Để đánh giá ảnh hưởng của độ ẩm trong giai đoạn này chúng tôi lấy 90 bịch của công thức 1 được đặt trong điều kiện độ ẩm khác nhau, các thí nghiệm này được lặp lại 3 lần:

    Thí nghiệm 1 (30 bịch) : Được đặt trong điều kiện độ ẩm từ 70 – 85%

    Thí nghiệm 1 (30 bịch) : Được đặt trong điều kiện độ ẩm từ 85 – 95%

    Thí nghiệm 1 (30 bịch) : Được đặt trong điều kiện độ ẩm từ 95 – 100%

    Dựa trên các tiêu chí đánh giá là: thời gian phát triển trung bình của quả thể nấm được tính từ khi bắt đầu hình thành quả thể đến khi thu hái, năng suất trung bình của nấm ở mỗi thí nghiệm, kết quả thu được như sau:

    Bảng 8. Ảnh hưởng của độ ẩm trong giai đoạn hình thành và phát triển của quả thể nấm

     

    TN1 (70 – 85%)

    TN2 (85 – 95%)

    TN3 (95 – 100%)

    Thời gian phát triển trung bình của quả thể nấm (ngày)

    20

    17

    14

    Năng suất trung bình (%)

    16.6

    35.2

    15.2

    Biểu đồ 10: Ảnh hưởng của độ ẩm đến năng suất nấm

    Từ kết quả theo dõi và nhìn vào bảng 8, biểu đồ 10, ta thấy độ ẩm ảnh hưởng rất lớn đến thời gian phát triển của quả thể nấm, năng suất và đặc điểm của quả thể. Trong thí nghiệm 1 độ ẩm từ 70 – 85%,  quả thể phát triển không bình thường, mũ nấm bị sùi, bị rạn, năng suất thấp.

    Trong thí nghiệm 3 độ ẩm 95 – 100%, thì quả thể nấm phát triển không tốt, mũ quả thể bóng nước, chân quả thể có hiện tượng thối nhũn năng suất cũng thấp.

    Ở thí nghiệm 2 độ ẩm từ 85 – 95%, quả thể phát triển tốt, hình thái quả thể đẹp, tỷ lệ đậu quả cao nên năng suất cao, đây là ngưỡng độ ẩm tốt tối ưu cho quả thể nấm phát triển, cho năng suất cao.

    Hinh 11. Quả thể nấm Ngọc Châm ở độ ẩm 85 – 95%

     

    4.2.4 Ảnh hưởng của của phương thức cạo bịch đến quá trình hình thành quả thể

              Sau khi sợi nấm ăn được 3/4 bịch nấm chúng tôi tiến hành thí nghiệm cạo bịch nấm. Chọn ra 60 bịch ở công thức đối chứng để tiến hành theo dõi, thí nghiệm có 30 bịch cạo và 30 bịch không cạo.

    Bảng 9: Ảnh hưởng của phương thức cạo bịch đến quá trình phát triển của nấm

                    TN

    Chỉ tiêu

    Thí nghiệm cạo bịch

    Thí nghiệm không cạo bịch

    Thời gian sợi ăn kín bịch

    25

    30

    Thời gian ra mầm quả thể

    Sau khi đưa vào nhà lạnh 15 ngày

    Sau khi đưa vào nhà lạnh 20 ngày

    Tỷ lệ nhiễm bề mặt

    6%

    0,67%

    Hình thái quả thể

    Quả thể mọc thẳng

    Quả thể mọc hơi cong

    Năng suất trung bình

    35%

    28%

    Qua bảng 9 ta nhận thấy đối với thí nghiệm cạo bịch thì thời gian ra quả thể và năng suất quả thể cao hơn so với thí nghiệm không cạo bịch. Tuy nhiên tỷ lệ nhiễm mốc lại là cao hơn.

    Trong thực tế sản xuất cần phải tính toán hiệu quả khi cạo bịch phải mất chi phí thuê công nhân và tỷ lệ nhiễm mốc là cao hơn, tuy nhiên hình thái quả thể đẹp hơn, năng suất cũng tăng so với không cạo bịch

    4.3 Kết quả nghiên cứu về năng suất của nấm Ngọc Châm.

    Trong quá trình theo dõi năng suất của chủng nấm Ngọc Châm HT, chúng tôi lấy kết quả trung bình của cả 3 đợt nuôi trồng. Năng suất được tính bằng trọng lượng quả thể nấm tươi/ trọng lượng nguyên liệu khô, đơn vị (%).

    Bảng 10 : Năng suất thu hoạch trung bình các đợt

            NS

    CT

    Năng suất đợt 1 (%)

    Năng suất đợt 2 (%)

    Năng suất đợt 3 (%)

    Năng suất trung bình (%)

    CTĐC

    29.5

    32

    31

    30.8

    CT1

    35

    34.5

    36

    35.2

    CT2

    20

    21

    19.5

    20.2

    CT3

    25

    27.5

    25.5

    26

    CT4

    22

    21.5

    24

    22.5

     

    Biểu đồ 11: Biểu đồ năng suất trung bình của sản phẩm nấm tươi

     

    Bảng 11: Đánh giá hình thái quả thể nấm Ngọc Châm

     

        Chỉ tiêu

     

    CT

    Đường kính trung bình mũ (cm)

    Đường kính trung bình chân (cm)

    Độ dài trung bình chân nấm (cm)

    Trọng lượng trung bình 100 quả thể tươi (kg)

    CTĐC

    4.4

    1.8

    13.2

    0.75

    CT1

    5

    1.90

    11.2

    0.88

    CT2

    3.5

    1.59

    14.1

    0.64

    CT3

    3.8

    1.65

    12.0

    0.70

    CT4

    4.0

    1.68

    10.2

    0.68

    Từ bảng 10, 11 và biểu đồ 11 ta thấy:

    – Nhìn chung năng suất của chủng nấm Ngọc Châm trên môi trường nguyên liệu theo 5 công thức thí nghiệm đều cho năng suất tốt, năng suất đều đạt trên 20%

    – Để năng suất nấm Ngọc Châm đạt hiệu quả cao, đồng đều thì môi trường cơ chất công thức 1 là môi trường cơ chất thích hợp. Môi trường cơ chất công thức đối chứng cho năng suất cũng khá cao nhưng quả thể nấm không đồng đều như công thức 1.

    – Vì vậy, để năng suất nấm Ngọc Châm cao, đồng đều ta nên sử dụng môi trường cơ chất theo công thức thí nghiệm 2 như sau: Mùn cưa 27%; mùn tre 27%; bông hạt 27%; cám gạo 12%; bột ngô 12%; CaCO3 1,5%; đường 0,5%.

    Hình 12. Quả thể nấm Ngọc Châm

    PHẦN V: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ

     

    5.1 Kết luận

    – Chủng nấm Ngọc Châm là một chủng nấm có giá trị cao, có thể nuôi trồng và cho năng suất tốt trong điều kiện khí hậu Việt Nam. Việc nuôi trồng tốt chủng nấm Ngọc Châm tại Việt Nam đem lại giá trị kinh tế to lớn cho nước ta.

    – Qua quá trình nghiên cứu bước đầu, chúng tôi đã tìm ra một số yếu tố ảnh hưởng đến quá trình sinh trưởng và phát triển của nấm Ngọc Châm như sau:

    + Môi trường nguyên liệu và phu gia bổ sung có ảnh hưởng rất lớn đến thời gian sinh trưởng, phát triển của hệ sợi và hình thành quả thể. Công thức 1 qua nghiên cứu bước đầu là công thức tốt nhất, bao gồm: Mùn cưa 27%, mùn tre 27%, bông phế loại 27%, bột ngô 5%, cám gạo 12%, bột nhẹ 1,5%, đường 0,5%.

    + Giai đoạn nuôi sợi cần đảm bảo các yếu tố về nhiệt độ 20 – 25oC với độ ẩm môi trường 60 – 75%.

    + Ươm sau khi cấy giống từ 45 – 50 ngày thì cạo bịch để kích thích sợi nấm phát triển.

    + Giai đoạn chăm sóc thu hái cần nhiệt độ thấp 10 – 15oC, độ ẩm môi trường 85 – 95%.

    5.2 Đề nghị

    Chủng nấm Ngọc Châm là chủng nấm mới tại Việt Nam, vì thế việc nghiên cứu còn gặp nhiều khó khăn về tài liệu nghiên cứu, kinh nghiệm thực tiễn. Để có thể đưa chủng nấm Ngọc Châm ra nuôi trồng công nghiệp và đạt được hiệu quả cao chúng tôi có một vài kiến nghị sau:

    – Do thời gian thực tập có hạn, chúng tôi đề nghị tiếp tục nghiên cứu đề tài này để tìm ra môi trường thích hợp nhất để nuôi trồng nấm Ngọc Châm.

    – Ngoài nguyên liệu mùn cưa gỗ keo, bông phế loại, có thể nghiên cứu trên những nguyên liệu khác như mùn tre, lõi ngô, bã mía để tìm ra nguyên liệu tối ưu cho việc nuôi trồng loại nấm này.

    – Cần có những đề tài nghiên cứu sâu hơn về thành phần hóa học của nấm Ngọc Châm để tìm ra những phương pháp hữu hiệu nhất cho việc chế biến và bảo quản.

     

     

     

     

     

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

    Tài liệu tiếng Việt

    1. Đường Hồng Dật (1999). Kỹ thuật nuôi trồng nấm mỡ, nấm rơm, nấm sò, nấm hương. NXB Nông Nghiệp.

    2. Nguyễn Hữu Đống (2005) Nấm ăn – cơ sở khoa học và công nghệ nuôi trồng. NXB Nông Nghiệp.

    3. Đinh Xuân Linh, Thân Đức Nhã, Nguyễn Hữu Nống, Nguyễn Thị Sơn (2008). Kỹ thuật trồng, chế biến nấm ăn và dược liệu. NXB Nông Nghiệp.

    4. Nguyễn Lân Dũng (2002). Công nghệ nuôi trồng nấm Tập chúng tôi NXB Nông Nghiệp.

    5. Trịnh Tam Kiệt (1981). Nấm lớn Việt Nam. NXB Khoa Học và Kĩ Thuật Hà Nội.

    6. Trương Thụ Đình (1981). Sổ tay trồng nấm ăn và nấm chữa bệnh. NXB Văn Hóa Dân Tộc.

    7. Vương Bá Triệu, Trần Khởi Trinh (2000). Giới thiệu các loài nấm ăn và làm thuốc. NXB Khoa Học và Kĩ Thuật Hà Nội.

     

    Tài liệu tiếng Anh

    8. Akira Harada, , Seiki Gisusi, Shozo Yoneyama and Masakazu Aoyama (2000)Effects of strain and cultivation medium on the chemical composition of the taste components in fruit-body of Hypsizygus marmoreusJournal of Food Composition and Analysis (100), pp 129-140.

    9. Lillian Barros, Paula Baptista, Daniela M. Correia, Susana Casal, Beatriz Oliveira, Isabel C.F.R. Ferreira (2007)  “Fatty acid and sugar compositions, and nutritional value of five wild edible mushrooms from Northeast Portugal”  Food Chemistry, (105), pp. 140–145

    10. Mahfuz Elmastas, Omer Isildak, Ibrahim Turkekul, Nuri Temur (2007) “Determination of antioxidant activity and antioxidant compounds in wild edible mushrooms” Journal of Food Composition and Analysis, (20), pp. 337–345

    11. Ovrebo, C.L and Baroni, T.J. (2007) “New taxa of Tricholomataceae and Entolomataceae (Agaricales) from Central America” Fungal Diversity  (27),pp.157-170

    12. Jin Yi Wong, Fook Yee Chye (2009) “Antioxidant properties of selected tropical wild edible mushrooms” Journal of Food Composition and Analysis, (22), pp. 269–277

    13. Shoji Ohga (1999) “Effect of water potential on fruit body formation of Lentinula edodes in sawdust-based substrate” The Japan Wood Research Society,( 45), pp. 337-342

    14. Shoji Ohga (1999)“Evaluation of maturity by use of pH indicators in sawdust-based cultures of Lentinula edodes The Japan Wood Research Society, (45), pp. 431-434.

    15. Hexiang Wang a,b, T.B. Ngc, ( 2004) ”Isolation of a new ribonuclease from fruiting bodies of the silver plate mushroom Clitocybe maxima”, Sciense derect, Peptides (25), pp. 935–939

    Tài liệu trên internet

    16. http://www.unicornbags.com/cultivation/hpma.shtml

    17. http://www.forestmushrooms.com/mushroomsandmedicine.htm

    18.http://www.freshes.com/en/mushinfo/chaxin.htm

    19. http://authorama.com/free-from-school-1.html

    20.http://dl.begellhouse.com/journals/708ae68d64b17c52,7c3e0ba845ba8869,194fe31d6ec2cbea.html

    21. http://sciencelinks.jp/j-east/article/199908/000019990899A0245497.php

    22. http://pubs.acs.org/doi/abs/10.1021/jf8024387

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tìm Hiểu Về Mộc Nhĩ
  • Nấm Bạch Tuyết Tươi
  • Bí Đỏ Bao Nhiêu Calo? 100G
  • Dinh Dưỡng Từ Quả Kiwi
  • Bánh Kitkat Bao Nhiêu Calo?
  • Bạn đang đọc nội dung bài viết Nấm Ngọc Châm Hypsizigus Marmoreus trên website Shareheartbeat.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!

  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100
  • CẦM ĐỒ TẠI F88
    15 PHÚT DUYỆT
    NHẬN TIỀN NGAY

    VAY TIỀN NHANH
    LÊN ĐẾN 10 TRIỆU
    CHỈ CẦN CMND

    ×